Homepagepage
INTRODUCTION
BA VI NATIONAL PARK
FARM PRODUCE
FARM AND FARMER
SEASONAL PICTURES
TOURS IN THE COUNTRY
NEWS
Articles
Agri-tourism
Science
Events
Stories of farm-produces
CONSTRUCTIVE IDEA
COMMENTS
WEB LINK

Ngày truy cập:
14 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
31052
 
 
 
 
ARTICLES
Đặc sắc ngành chăn nuôi dê, cừu Indonesia

Chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ là một nghề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở Indonesia. Có tới 55% nông dân nước này chăn nuôi dê, cừu ở các quy mô và phương thức khác nhau. Chính phủ và chính quyền các cấp ở đều rất quan tâm tới ngành chăn nuôi nhiều ưu thế này của đất nước mình.

Con dê đã đi vào văn hoá người một cách sâu đậm. Nó đã trở thành món lễ vật chủ yếu và không thể thay thế ở một số lễ hội quan trọng như lễ hội Hurban, Akikah…, ngày cưới, hiếu hỉ và các dịp quan trọng khác.

Không chỉ là vật nuôi truyền thống gắn liền với văn hoá, tập quán chăn nuôi của người dân Indonesia mà cho đến ngày nay cho dù ngành chăn nuôi ở nước này đang khá phát triển thì dê, cừu vẫn là vật nuôi được phổ biến và là sự lựa chọn của đa số nông dân Indonesia. Bởi lẽ con dê giúp họ thu được nhiều sản phẩm từ sữa, thịt, lông, da, phân bón, khí sinh học để thắp sáng và sưởi ấm. Hơn nữa, chăn nuôi dê, cừu quay vòng nhanh, có mức đầu tư không cao, phù hợp với khả năng của đại đa số nông dân.

Số đầu dê tăng trưởng liên tục từ 12,722 triệu con năm 2003 lên 14,874 triệu con năm 2007 (hiện tại Việt Nam mới chỉ có khoảng 1,7 triệu con). Chăn nuôi cừu cũng khá phát triển, từ 7,811 triệu con năm 2003 lên 9,860 triệu con năm 2007.

Chăn nuôi dê, cừu chủ yếu phát triển ở các tỉnh Đông Java, Tây Java, Trung Java, chiếm khoảng 63% tổng đàn dê, cừu toàn quốc.

Năm 2007, sản xuất thịt dê đạt 63,411 tấn, thịt cừu đạt 84,763 tấn. Đông Java là tỉnh sản xuất nhiều thịt dê nhất chiếm 24% tổng số thịt dê trong khi thịt cừu chủ yếu được sản xuất ở tỉnh Tây Java, chiếm 57% tổng sản lượng thịt cừu.

Các giống dê chủ yếu ở là giống địa phương Kacang, một số giống nhập nội như Saanen, Gem bong nhập từ Thuỵ Điển. Đặc biệt là giống Ettwa, con đực trưởng thành nặng 75 - 105 kg, con cái trưởng thành nặng 50 - 60 kg, năng suất sữa 1 - 4 lít/con/ngày. Giống dê này đang được chú trọng gìn giữ và nhân giống trên toàn quốc.

Chỉ có khoảng 3 giống cừu được chăn nuôi ở là giống đuôi to, đuôi nhỏ và giống Garut.

Các phiên chợ giống dê, cừu thường được tổ chức chung với các giống vật nuôi khác như trâu, bò, gia cầm, lợn… vào 2 ngày mỗi tuần, thường là thứ ba và thứ bảy ở tất cả các huyện.

Quy mô chăn nuôi nhỏ dưới 10 con có thể gặp ở hầu hết các tỉnh trong cả nước nhưng các quy mô vừa từ 100 - 500 con/hộ thì lại chủ yếu ở phía bắc Sumatra.

Khoảng 3 năm trở lại đây, tăng cường xuất khẩu dê, cừu sang nhiều nước khác nhau, nhiều nhất là xuất khẩu sang.

Thu nhập từ chăn nuôi dê, cừu chiếm khoảng 20 - 30% tổng thu nhập của nông dân . Tuy nhiên sản phẩm chủ yếu vẫn là thịt tươi chưa qua chế biến, đóng gói. Giá mỗi kg thịt hơi thường từ 15.000 - 17.000 rupiah, tương đương 1,6 - 1,8 USD.

Mặc dù chăn nuôi dê, cừu khá phát triển ở đất nước này nhưng mặt hàng sữa dê vẫn rất đắt đỏ do sản lượng rất ít, chăn nuôi dê sữa còn ở quy mô nhỏ, người dân Indonesia coi sữa dê như một thứ thuốc quý hiếm, giá mỗi kg sữa dê từ 16.000 - 20.000 rupiah tương đương 1,6 - 2,1 USD trong khi sữa bò tươi chỉ từ 3.000 - 6.000 rupiah, tương đương 32 - 38 cent/lít.

Người dân còn coi phân dê như một nguồn lợi đáng kể. Hơn 60% phân bón cho cây trồng tại chỗ là từ phân dê, cừu. Còn lại được đưa vào hầm biogas để sản xuất khí sinh học. Khó khăn cho sự phát triển ngành chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ ở Indonesia lại chính là khả năng quản lý sản xuất cảu người dân chưa cao, còn khó khăn trong việc chủ động thức ăn xanh do giá thuê đất cao, khả năng phát triển đồng cỏ trồng còn hạn chế, các nghiên cứu khoa học mới chỉ dừng ở quy mô nhỏ và vừa.

Song cơ hội cho phát triển ngành chăn nuôi dê, cừu trong những năm tới là rất khả quan. Bởi lẽ chăn nuôi dê, cừu là nghề truyền thống, nông dân có nhiều kinh nghiệm, khí hậu thuận lợi, kinh tế tăng trưởng khá 6 - 7%/năm, sức tiêu thụ ngày một tăng, các địa phương đều có chính sách khuyến khích phát triển dê, cừu…

Vì vậy, chiến lược phát triển ngày này ở vẫn được đặt ra khá táo bạo là đẩy tỷ lệ chăn nuôi dê, cừu ngoài các tỉnh Java từ 37 - 50%. Năng suất sữa tăng từ 1 lít/con/ngày lên 2 lít/con/ngày. Quy mô chăn nuôi đặt hơn 10 con/hộ, xoá bỏ quy mô < 10 con. Tăng hiệu quả kinh tế, áp dụng khoa học công nghệ để tăng GDP của ngành.

Các phương pháp được lựa chọn thực hiện để đạt mục tiêu là tăng cường đầu tư, hỗ trợ nông dân, tạo cơ hội xuất khẩu nhiều hơn và chú ý tới sản xuất sữa dê, xây dựng các nhóm nông dân để sản xuất hàng hoá sản phẩm dê, cừu và phát triển thị trường. Phát triển hiệp hội dê, cừu, các trung tâm như Trung tâm đào tạo thú y quốc gia ở Đông Java, Trung tâm chăn nuôi dê, bò quốc gia ở phía nam Kalimantan, trung tâm huấn luyện nông dân ở Bogor… Đồng thời tăng cường các cơ hội hợp tác nhiều chiều trong và ngoài cộng đồng. Công tác giống được thúc đẩy, phát triển thụ tinh nhân tạo và chú trọng khâu xử lý môi trường, tận dụng chất thải dê, cừu như là một nguồn lợi để nâng cao thu nhập cho nông dân.

Chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ ở Indonesia thực sự đã trở thành một ngành chăn nuôi có bề dày lịch sử, là một trong những ngành có sản phẩm xuất khẩu của quốc gia này, là một nghề quan trọng trong việc nâng cao đời sống người dân cộng đồng nông thôn. Một trong những thành công nổi bật đáng ghi nhận là tuy kỹ thuật, công nghệ trong chăn nuôi và xử lý chất thải dê, cừu không mới nhưng Indonesia đã tạo nên sự khác biệt với ngành chăn nuôi dê, cừu ở một số nước khác như Việt Nam, Campuchia, Lào… là tổ chức được nông dân sản xuất thành từng nhóm, cùng góp vốn, cùng sản xuất, cùng bán sản phẩm và chia sẻ nhau lợi tức theo tỷ lệ vốn góp. Họ đã có những nhóm nông dân nhỏ (từ 10-80 người) hoặc nhóm lớn (> 100 người) sản xuất dê giống hoặc dê chuyên thịt với phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, xử lý phân làm phân sinh học bón cà phê, ca cao hoặc rau màu, nước tiểu làm biogas lấy khí đun nấu, bán và sưởi ấm.

Các mô hình kết hợp khép kín khá hiệu quả là dê + ca cao, cà phê +  phân trộn hoặc dê + biogas + cà phê. Vỏ quả các phê, ca cao làm thức ăn cho dê, phân dê lại được chế biến bón cho cà phê, ca cao. Nông dân Indonesia đã cải thiện đáng kể đời sống của mình bằng mô hình này.

Trong khi ở Việt Nam, ngành chăn nuôi dê, cừư chưa thực sự được chú trọng phát triển tương xứng với tiềm năng, thậm chí còn thống kê chung cho 2 loài khác biệt này thì Indonesia lại đang rất nỗ lực bằng nhiều phương thức từ chính sách, khuyến nông, thu huút các dự án nước ngoài, tôn vinh lịch sử chăn nuôi dê, cừu, tận dụng sự thuận lợi của khí hậu… để tiếp tục phát triển, làm giàu cho người dân và xuất khẩu từ ngành chăn nuôi dê, cừu nhiều lợi thế này của Indonesia.


Ths. Đào Lệ Hằng - Báo Nông nghiệp Việt Nam, số 180 ngày 8/8/2008

Các tin khác
 
TYPICAL PRODUCTS

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email: sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam