Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
14 tháng 8, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
Giới thiệu vườn quốc gia Ba Vì

Vườn quốc gia Ba Vì nằm ở phía Tây, cách trung tâm Hà Nội 60 km, nổi tiếng về vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, sự phong phú của các họ động thực vật nhiệt đới, đã được tồn tại, phát triển hàng ngàn năm nay.

Núi Ba Vì gồm ba đỉnh Vua Hùng cao 1300 m, Sơn Tinh cao 1200 m, Ngọc Hoa công chúa (tức Mị Nương - con gái út của Vua Hùng) cao 1100 m được phủ dày bởi rừng nguyên sinh nhiệt đới. Năm 1990 khu núi rừng này được công nhận trở thành vườn quốc gia Ba Vì trực thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Vườn cùng với vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì không những có ý nghĩa lớn về kinh tế, mà còn có ý nghĩa về sinh thái, môi trường nếu được bảo tồn và giữ gìn nghiêm khắc. Quỹ gen thiên nhiên của vườn (động thực vật, côn trùng và vi sinh vật) là gốc cho việc thành hình một vùng cung cấp thực phẩm mang tính thiên nhiên tươi sạch an toàn cho toàn bộ dân cư của thủ đô Hà Nội mở rộng.

Tại khu rừng nguyên sinh Ba Vì, từ năm 1886, nhà thực vật Pháp Balansa đã nghiên cứu, sưu tầm ở đây hơn 5.000 tiêu bản để đưa vào tự điển thực vật Chí Đông Dương.

Qua điều tra sơ bộ, Ba Vì có 812 loài thực vật bậc cao, thuộc 427 chi, 98 họ. Nếu điều tra tỉ mỷ, có thể vẫn còn hơn 2.000 loài, khi rừng bị phá nghiêm trọng từ độ cao 400 m trở xuống, Trong đó có 280 loài cây thuốc chữa được các bệnh: An thần, dạ dày, ruột, tiêu hóa, sốt rét, tê thấp, giải độc khỏi rắn cắn. Ba Vì có nhiều loại phong lan như Đuôi nhạn, Hài Vệ Nữ, Da Báo, Thạch Học Vàng, Cành giao...và hoa Hồng, Đỗ Quyên, Cúc vàng nở rực theo mùa..

     

Có những cây đặc hữu chỉ có Ba Vì mới có như Bách xanh, Bời lời, Da Thủ pháp...Ba vì hiện còn 70 loài thú cho da và thịt, 35 loài làm thuốc, có 114 loài chim, có một số loài quý hiếm như: Gấu, Báo gấm, Sóc bay, Gà lôi trắng...

     

Gắn liền với sự tích Sơn tinh, Thủy Tinh (Bài viết: Phảng phất bóng dáng kinh thành cổ qua các huyền thoại), rừng Ba Vì còn có ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt và Sơn Tinh - tức đức Thánh Tản Viên, theo tương truyền là người độ trì vĩnh cứu cho dải non sông đất việt ngàn đời xanh tươi đẹp đẽ.

(www.sanvatbavi.com.vn)

   


 PHẢNG PHẤT BÓNG DÁNG KINH THÀNH CỔ QUA CÁC HUYỀN THOẠI

Lịch sử dụng nước bốn nghìn năm ghi nhận sự tồn tại không biết bao nhiêu triều đại các vua chúa Việt Nam nhưng qua thăng trầm lịch sử có những kinh thành chỉ còn lại bóng dáng trong các huyền thoại, truyền thuyết. Nhất là thời Hùng Vương, cách hơn 3000 năm về trước - một thời kỳ đầy biến động cả về thiên nhiên (biển lùi dần để xuất hiện đồng bằng phù sa màu mỡ) và lịch sử. Đó là việc hình thành những kinh thành cổ đại đầu tiên, đánh dấu sự bắt đầu kết thúc của các bộ lạc sống rải rác trong các hang động miền núi cao tràn xuống chinh phục những vùng đất mới, bộ tộc Hùng Vương đã chiếm ưu thế. Thời Hùng Vương đã lùi vào quá khứ xa xăm, nhưng lần theo tên núi tên sông và các huyền thoại đẹp đẽ vẫn thấy phảng phất bóng dáng kinh thành của Hùng Vương với hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, để lại trong dân gian hai câu truyện về tình yêu nổi tiếng: Chử Đồng Tử-Tiên Dung và Sơn Tinh-Ngọc Hoa. Phải chăng đó là truyện có thật hay chỉ là sự nhân cách hoá tài tình về tình yêu mãnh liệt của dân tộc vào đất đai, niềm tin vĩ đại ngàn đời vào sức mạnh lao động của chính mình, đời này qua đời khác để gặt hái được những mùa lúa vàng trĩu hạt, gây dựng cả một nền văn minh sản xuất lúa nước có một không hai ở xứ sở ẩm thấp, bão lụt, gió mùa. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, tình yêu tha thiết trước một thiên nhiên kỳ vĩ có miền núi cao xen lẫn với trung du, những dòng sông gấm vóc để có thể bất cứ ai mang dòng máu Việt đều cảm thấy trong lòng mình sống mãi những huyền thoại đẹp như mơ và Vua Hùng như rất gần với thời đại chúng ta với câu ca dao:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ về giỗ Tổ mùng mười tháng ba.

Còn Sơn Tinh - con rể vua Hùng chính là hiện thân có thật của hệ thống đê điều hàng ngàn kilômét ngày đêm bảo vệ hàng triệu hécta làng xóm và đồng ruộng chạy dọc theo những lưu vực sông. Sơn Tinh - Thuỷ Tinh cũng là bản trường ca bất tận về sự nghiệp lao động dẻo dai, bền bỉ, kiên trì của biết bao thế hệ người Việt để chống chọi và thích nghi với thiên nhiên vừa hiền hoà vừa rất khó tính. Kinh thành đầu tiên và xa xưa nhất theo quan niệm nằm trên vùng đất giữa hai dãy núi Ba Vì và Tam Đảo, do hệ thống những dòng sông như sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Thái Bình bồi tạo. Dấu vết còn lại là Đền Hùng ở Bạch Hạc. Thử đi theo dẫn dắt của truyền thuyết, ta sẽ thấy sự tiếp nối rất lôgíc và hiện thực. Ngọc Hoa - con gái út của vua Hùng và Sơn Tinh, đều lớn lên ở hai bờ sông Hồng. Sơn Tinh là một cậu bé mồ côi cha từ sớm, hàng ngày phải lên núi Ba Vì kiếm củi nuôi mẹ. Thấy Sơn Tinh hiếu thảo và thông minh, Thái Thượng Lão Quân là người do Ngọc Hoàng sai xuống để trông coi núi Ba Vì đã thử lòng và trao cây gậy đầu sinh đầu tử cho chàng để thay người cai trị muôn loài. Cây gậy thần đã giúp Sơn Tinh cải tử hoàn sinh cho Thuỷ Tinh - là con vua Thuỷ Tề do đi chơi đội lốt rắn và bị trẻ chăn trâu đập chết dọc bờ sông. Đền ơn cứu sống con trai, vua Thuỷ Tề đã tặng Sơn Tinh quyển sách ước, còn hai chàng trai tài giỏi đã kết bạn và đi đâu cũng có nhau. Bên kia sông, vua Hùng già yếu và cũng buồn vì mối nhân duyên không tương xứng giữa Chử Đồng Tử - một người đánh cá dặm với cô con gái đầu là Tiên Dung, quyết định kén rể cầu hiền cho cô con gái út. Nghe tin, Sơn Tinh rủ Thuỷ tinh cùng đến dự hội. Trong hội, còn có rất nhiều chàng trai từ các tộc khác đến, trong đó có cả An Dương Vương Thục Phán - tộc trưởng tộc Âu Việt, nhìn thấy nàng Ngọc Hoa vô cùng xinh đẹp, kiều diễm, hiền dịu, ai nấy đều quyết tâm trổ tài chiếm đoạt. Nhưng tất cả cuối cùng đều thua cuộc, chỉ còn hai chàng trai được mệnh danh là Thần Núi và Thần Nước thi nhau trổ tài trước vua Hùng. Sơn Tinh chỉ núi, núi lở; Thuỷ Tinh phun nước làm mưa lụt, sóng gầm. Vua Hùng thấy hai chàng đều tài giỏi phi thường đành phải ra lời thách đố hóc búa:

- Ngày mai, ai là người mang đến trước cho ta mâm lễ gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, ta sẽ gả con gái và nhường ngôi báu.

Nhờ có sách ước và gậy thần, Sơn Tinh đã thắng, đoạt được nàng công chúa, có lẽ vậy vì ghen nên Thuỷ Tinh đã giận dữ đổi bạn thành thù. Thuỷ Tinh dẫn đầu các đội quân thuỷ quái để làm một trận quyết đấu đất long, trời lở nhằm đánh bại Sơn Tinh hòng cướp lại Ngọc Hoa. Những nơi hai chàng đánh nhau dữ dội đã được ghi lại như hồ Đồng Mô - có nghĩa là đồng có nhiều mô đất, dấu tích mà Sơn Tinh đã gánh để ném chặn các dòng nước do Thuỷ Tinh dâng lên; đầm Đượng (đầm Long ?) 16 cửa, nơi Thuỷ Tinh bị thất trận rút lui; gò Mả Đống (Đường Lâm – Sơn Tây), vực Cầu Hang (Sơn Tây) địa danh những nơi ẩn náu của những loài thuỷ quái vốn là tướng lĩnh của Thuỷ Tinh không kịp rút ra biển khi ấy.

Thắng lợi hoàn toàn, Sơn Tinh xin vua Hùng được đón công chúa về núi Ba Vì với mình mà không nhận ngôi vua vì phải thực hiện lời hứa giữ gìn ngôi núi Tổ Ba Vì muôn đời cho non sông nước Việt. Có lẽ khi vua Hùng già yếu cũng về sống với con rể và con gái, thế nên chăng Ba đỉnh Ba Vì được truyền thuyết ghi nhận là đỉnh vua Hùng, đỉnh Sơn Tinh và đỉnh Ngọc Hoa công chúa.

Lại nói về An Dương Vương Thục Phán vì quá yêu công chúa, tuy thua nhưng vẫn thỉnh thoảng kéo quân đến đánh, thấy vậy, Sơn Tinh khuyên vua Hùng nhường ngôi cho An Dương Vương để cầu hoà và mở rộng bờ cõi, tăng thêm sức mạnh. Do vậy, sau này, khi vua Hùng băng hà, kinh thành đã được chuyển từ Bạch Hạc về Cổ Loa. Theo tương truyền có bốn đền được xây xung quanh vùng chân núi Ba Vì để kỷ niệm trận chiến thắng của Sơn Tinh. Đến nay chỉ còn Đền Và (Đông Cung) là còn lại. Đền Và tôn nghiêm thờ phượng vị thánh dẫn đầu trong 4 vị thánh bất tử (Tứ Bất tử) của Việt Nam, chỉ cách Hà Nội 42km và cách Trung tâm Tp. Sơn Tây 0.5 km.

Bước vào Đền Và, bạn có cảm giác như đâu đây bóng dáng của một kinh thành cổ. Đền giống như một cung điện nhỏ, có thành làm bằng những tảng phiến đá ong lớn bao quanh. Nằm giữa một khu rừng lim cổ đại nhỏ còn sót lại với những dãy nhà lớp lớp, có gác chuông gác trống hai bên sân. Phải qua hai thư ký và tứ trụ triều đình mới vào được cung chính. Trong cung có ba ngựa gỗ cao bằng ngựa thật, có hạc đứng trên rùa và cột đá biểu tượng cung điện. Tận cùng là hậu cung linh thiêng với ba ngai vàng lớn được chạm trổ hình chim Lạc Việt trên có bức khảm: Thượng đẳng tối linh. Đền được trùng tu lại nhiều lần, nhất là đời Hậu Lê, nhưng xuất xứ được ghi nhận là xây có thể cách đây hàng ngàn năm. Nhìn những tảng đá rêu phong cổ kính sẽ thấy rõ điều đó nơi đây, dấu tích của một thời vàng son. Đặc biệt Đền có một vị trí trang trọng và rất lớn so với các đền khác ở nước ta. Các đời vua minh chủ đã lên đây cầu nguyện cho ngai vàng được bền vững và giữ gìn được non sông gấm vóc. Xin Vua đồng thời là Thánh Sơn Tinh phù hộ và đáp ứng những ước vọng tốt đẹp nhất của dân tộc. Theo truyền thống, cứ 4 năm một lần là một lễ rước rất lớn vào rằm tháng Giêng âm lịch đón Sơn Tinh sang sông Hồng để thăm mảnh đất quê mẹ. Do lẽ vậy, trên cái nôi đầu tiên của sự hình thành kinh thành vua Việt Nam, các kinh đô dù có đi đâu rồi cũng về hội tụ gần gần đó. Đó là Hai Bà Trưng tôn mẹ là Mèn Thái Hậu lên ngôi ở Ba Vì năm 43-44 sau Công Nguyên. Lý Nam Đế gây dựng nhà nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI và Phùng Hưng thế kỷ thứ VIII đều gần Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay và nhà Lý cũng dời đô về Hà Nội dọc sông Hồng. Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu - một nhà văn hoá Á Đông vĩ đại đã từng chọn một vị trí nằm dựa lưng vào núi Ba Vì nhìn thẳng qua kinh thành vua Hùng làm nơi nghỉ ngơi và làm việc của mình. Điều này càng thấy rõ hơn tính hiện thực của các huyền thoại của dân tộc Việt Nam, nhất là về các kinh thành cổ.

Tháng 8 năm 1995

N.K.O


XỨ ĐOÀI (HÀ TÂY), VÙNG ĐỊA LINH XƯA

Lấy kinh đô Thăng Long làm trung tâm thì vùng đất phía tây kinh thành là xứ Đoài. Xứ Đoài xưa gồm vùng đất rộng lớn. Từ Cầu Giấy, chạy theo đường Đê La Thành lên đường Lạc Long Quân qua sông Hồng đến Phúc Yên hất lên phía tây tới tận Hưng Hóa.

Lại cũng từ Cầu Giấy xuôi theo đường Láng đến Ngã Tư Sở chạy theo đường 6 đến thị xã Hà Đông hất qua vùng Quốc Oai, Hòa Lạc bây giờ. Ấy là xứ Đoài. Ở đây trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ giới thiệu vùng đất chạy theo quốc lộ 32 gồm các quận, huyện: Cầu Giấy, Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng và tỉnh Sơn Tây cũ với một phần tỉnh Phú Thọ thôi. Thành cổ Sơn Tây ngày nay là thủ phủ xứ Đoài.

Vậy là xứ Đoài đã ôm cả ba dòng sông lớn: Sông Đà, sông Thao và sông Lô. Ngã ba Hạc là nơi hợp thành của ba sông để tạo nên nơi tụ thủy ở đầu sông Cái, con sông tạo dựng thành vùng châu thổ trù phú với một nền văn minh rực rỡ: Văn minh sông Hồng. Núi Ba Vì không chỉ là ngọn núi huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh mà còn là ngọn núi linh của xứ Đoài, của nước Đại Việt ta. Chả vậy, vua nhà Đường đã cử vị tướng kiêm thầy phù thủy Cao Biền sang triệt long mạch nước Nam để nước Nam không thể phát vương. Vua Đường chỉ dụ cho thầy phù thủy Cao Biền phải đào 100 chiếc giếng ở chân núi Ba Vì. Vua Đường ví núi Ba Vì là một cái đầu rồng hùng mạnh, còn thân rồng chạy suốt vào phương Nam tức dải Trường Sơn ngày nay. Cứ theo ý của vua Đường suy ra thì đuôi rồng vào đến tận cực nam Trung Trung bộ. Và đất xứ Thanh Nghệ ở đúng lưng rồng. Nhưng trời không dung, đất không tha ý đồ xấu xa của đạo quân xâm lược nên Cao Biền cứ đào được gần xong cái giếng nào, cái giếng ấy đều bị sập. Quân của Cao Biền chết vì sập giếng, vì rừng thiêng nước độc, ruồi vàng, bọ chó không biết bao nhiêu mà kể. Cao Biền đành bỏ cuộc, chạy về xây thành Đại La. Mặc dù Cao phù thủy đã yểm rất nhiều tiền vàng nhưng cứ xây đến đâu thành đổ đến đó.

Xứ Đoài không chỉ có núi Ba Vì, có đất tụ thủy của ba sông mà còn có thêm hai con sông nữa chảy qua. Ấy là sông Tích và sông Đáy. Sách Đại việt sử ký toàn thư còn ghi, năm 1010, vua Lý Thái Tổ đi kinh lý phía tây. Thuyền rồng của đức vua đến khúc sông Cù (một đoạn của sông Đáy) phía tả ngạn là làng dừa Yên Sở, hữu ngạn là vùng núi thập bát gồm 18 ngọn núi đá vôi thuộc các xã: Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn, Hoàng Ngô mà người đời vẫn gọi là "vịnh Hạ Long cạn". Ngài thấy tâm thần sảng khoái, rung động. Đức vua sai bày hương án ra mạn thuyền rồng. Ngài thắp hương khấn rằng: "Trẫm thấy nơi đây sơn kỳ thủy tú (núi lạ sông đẹp) ắt có nhân kiệt địa linh, xin hưởng lễ này". Khấn xong, đức vua rót ba chén rượu đổ xuống sông.

Xem như vậy đủ thấy vùng đất xứ Đoài như thế nào.

Bây giờ chỉ xin được kể một số nhân kiệt, chứ tôi không có ý viết về các làng khoa bảng với các vị trạng nguyên, tiến sĩ.

Hãy bắt đầu từ Đức Thánh Tản. Ngài tên thật là Nguyễn Tuấn, con bà Đinh Thị Đen (có sách viết là Điên). Ngài là biểu tượng anh hùng trị thủy của dân tộc trồng cây lúa nước. Có lẽ vì vậy Ngài được nhân dân ta tôn vinh là vị thần thứ nhất trong bốn vị thần bất tử. Còn ở bên kia Ngã ba Hạc là nơi có nhiều giả thiết cho là kinh đô các vua Hùng. Ngược lên là Đền Hùng thờ quốc tổ Hùng Vương.

Có lẽ hiếm có đất nào ở nước ta được như đất xứ Đoài. Bởi ở xứ Đoài có làng cổ Đường Lâm, đất hai vua: Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) và Ngô Quyền. Kế tục sự nghiệp của bố vợ là Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền đánh đuổi giặc Nam Hán, giữ vững nền độc lập. Ngài là người đầu tiên nghĩ ra cách đánh đóng cọc xuống dòng sông để chôn vùi xác giặc ở cửa sông Bạch Đằng. Phía trên làng cổ Đường Lâm vài kilômét còn có mộ cụ Man Thiện, thân mẫu của hai vua bà: Trưng Trắc và Trưng Nhị. Lịch sử nước Việt ta hiếm có trang sử nào đẹp như cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, một đêm giải phóng 65 thành trì của Hai Bà Trưng.

Nhắc tới xứ Đoài, miền đất nhân kiệt không thể không nhắc tới hai vị thượng thư nổi tiếng ở vùng Cổ Đô, nơi tụ thủy của ba sông"... dòng biếc lẫn dòng đào/ ... nước đen pha nước bạc".

Vị thượng thư thứ nhất là Nguyễn Sư Mạnh (xin đừng nhầm với Phạm Sư Mạnh ở Hải Dương, xứ Đông). Nguyễn Sư Mạnh đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn. Ông có công, được ban quốc tính, tước Sùng Tín Hầu. Nguyễn Sư Mạnh đi sứ khi đang là Thượng thư bộ Lễ. Ông vốn khinh thường vua Minh nên khi vào yết kiến không cài khuy áo. Vua Minh cả giận cho rằng sứ thần nước Nam xấc xược, khinh nhờn thiên tử, bèn kết tội khi quân. Nguyễn Sư Mạnh quỳ xuống tâu rằng:

Sứ thần nước Nam đầy một bụng chữ thánh hiền đi lâu ngày sợ khú mất, nên phải cởi khuy áo ra hong. Xin được đại xá.

Vua Minh thấy ông đối đáp mau lẹ, có lý, không nỡ giết ngay sợ mang tiếng hại người hiền nước Nam, bèn xuống chiếu:

Nay thiên triều mất thiên Vi Chính trong sách Luận ngữ, nhờ người thuộc thiên kinh vạn quyển chép lại giúp. Hạn trong ba tháng phải xong.

Mấy tháng đầu, Nguyễn Sư Mạnh du chơi thoải mái, xem cảnh Yên Kinh (Bắc Kinh). Vua Minh cho gái đẹp vào quấy nhiễu, ông cũng chẳng nề hà. Gần hết hạn ông mới cáo ốm, không rong chơi, không đón gái đẹp, đóng cửa, chép liền mấy đêm. Chương Vi Chính dâng lên. Vua Minh lấy sách ra so, thấy thừa một dấu khuyên ở chữ Cộng. Nguyễn Sư Mạnh không chịu, ông bảo sách của vua sai. Vua Minh sai lấy bản gốc ở thư khố ra xem. Quả nhiên chỗ chữ Cộng có dấu khuyên ấy. Vua Minh tấm tắc khen sứ thần nước Nam. Nhà vua không những bỏ ý định giết ông mà còn phong cho chức Thượng thư và được ban mũ áo, thẻ bài. Ở nhà thờ ông còn lưu giữ được bức hoành phi "Lưỡng quốc Thượng thư".

Cũng ở làng Cổ Đô, ở nơi nhìn ra khúc sông thủy tụ ấy còn có Thượng thư lục bộ Nguyễn Bá Lân. Bởi thời ấy, bộ nào yếu kém, vua lại cử ông sang để vực lên. Nguyễn Bá Lân đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Tân Hợi (1731). Ông vốn ham học, thông minh, tuy cha ông, vẫn rèn ông rất khắc nghiệt. Chuyện rằng, cha bắt ông leo lên xà nhà ngồi học rồi rút bỏ thang, ở dưới cắm một giàn chông. Nếu ông ngủ gật rơi xuống sẽ bị chông cắm đầy mình. Một hôm, nhân cha đi vắng, ông nhờ người làm chặt cho một khúc chuối đã lấy buồng buộc ốp vào xà nhà. Khi cha về đã tối, lên đèn được một lúc nên không để ý. Đêm ông mới thả khúc chuối cho nó rơi xuống giàn chông. Cha ông dở thức, dở ngủ, nghe đánh bịch một tiếng hoảng hồn, vùng dậy, kêu:

- Nhà ta mất tiến sỹ rồi!

Cha mẹ ông hãi sợ, chạy ra thì chỉ thấy có khúc chuối bị chông xuyên từ dưới lên trên. Còn ông vẫn ngồi trên xà nhà nhăn răng cười. Biết không thể rèn con kiểu ấy được, cha ông bèn bỏ, không bắt con ngồi học trên xà nhà nữa.

Một lần, hai cha con ông qua sông. Cha ông thấy đàn dê bên kia sông liền ra đề "Dịch đình dương xa phú". (Bài phú xe dê cung cấm). Cha ông giao hẹn: "Sang bờ bên kia, ai làm xong trước được ném người chưa làm xong xuống sông". Không ngờ khi thuyền cập bến, ông làm xong bài phú, còn cha ông mới được một nửa. Theo quy ước, ông phải ném cha xuống sông. Ông sợ quá, không dám nghe lời. Cha ông cả giận nói: "Mày không vứt tao thì tao vứt mày vậy". Dứt lời, cha ông ôm ông ném xuống sông khiến ông suýt chết đuối và phải uống no một bụng nước. Bài phú của Nguyễn Bá Lân, gọi là "Nhất độ giang thành chương phú" (Bài phú hoàn thành trên chuyến đò ngang). Nguyễn Bá Lân còn là tác giả bài "Ngã ba Hạc phú". Đây là "bài phú nôm" tiếng tăm lừng lẫy đương thời, các văn nhân, mặc khách không ai không biết. Bài "Ngã ba Hạc phú" là sự đóng góp lớn của Thượng thư lục bộ Nguyễn Bá Lân vào nền văn học cổ Việt Nam.

Nói đến xứ Đoài, không thể không nhắc đến những người thợ mộc làng Chàng. Chính họ đã dựng chùa Tây Phương và tạc tượng La Hán cho làng mình, quê mình. Họ cũng được triều đình tin cậy giao cho làm Văn Miếu Quốc Tử Giám và chùa Kim Liên ở Hà Nội. Và gần đây, họ được vinh dự chọn làm nhà Thái Miếu. Về người thợ mộc làng Chàng có một huyền thoại thật hay. Năm đó, Đức Tản Viên Sơn Thánh đo khắp trong thiên hạ để chọn thợ mộc làm nhà cho mình trên núi Ba Vì. Thợ mộc làng Chàng đã lọt vào mắt Ngài. Kíp thợ được Ngài lựa có anh thợ cả tài hoa, khéo tay, còn rất trẻ và mới cưới vợ. Ngài cho phép người vợ theo chồng để lo gạo củi, cơm nước cho kíp thợ. Một chiếc cầu bằng mây trắng được ngài bắc từ đỉnh núi Ba Vì đến làng Chàng làm đường đi cho kíp thợ. Cây trong rừng sẵn. Nhà Thánh dặn dùng cây nào mới được hạ, không được ngả lung tung, hại rừng. Chàng trai trẻ thợ cả, không hiểu nghĩ thế nào đã cắt hụt cả mấy cây cột cái. Chàng lo sợ bần thần, mồ hôi đổ như tắm. Người vợ hiểu được tâm trạng của chồng, nàng ý tứ để cái đấu đong gạo lên đỉnh đầu. Chồng nàng sung sướng trút được nỗi lo. Thế là các chân cột không đặt trực tiếp xuống mặt nền nhà nữa mà mỗi cột đều có một cái đế chạm trổ tinh xảo. Đức Thánh Tản rất hài lòng. Từ đó người đời học theo, làm chân cột bằng những phiến đá cực đẹp để chống ẩm và chống mối.

Cách chùa Tây Phương không xa về phía đông là chùa Thầy với sự tích thiền sư Từ Đạo Hạnh và dòng họ Phan Huy nổi tiếng. Cụ tú kép Phan Huy Chú đã để lại cho đời bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Ở chùa Thầy còn để lại dấu tích hai cột trò vảy với vết rìu của vị thiền sư. Trước cửa chùa có hai cái cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Các học giả xưa như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Quốc sử quán triều Nguyễn đều đánh giá cụ là một nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị, kinh tế, quân sự ngoại giao kiệt xuất. Nói đến xứ Đoài xưa không thể không nhắc đến hai danh thần nổi tiếng làm quan đồng triều là Tô Hiến Thánh quê ở Đại Mỗ và Đỗ Kính Tu quê ở Vân Canh. Đỗ Kính Tu còn được ban quốc tính họ Lý. Ở Vân Canh còn một tôi trung chỉ thờ một chủ thể hiện tinh thần bất hợp tác với triều đại khác là Lý Trần Quán. Ông nhờ người đào huyệt, hạ quan tài xuống, rồi mặc triều phục nằm vào quan tài, đậy nắp lại, đắp đất lên...

(Nguồn: Báo Hà Tây)

 

Các tin khác
 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam