Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Báo chí
Du lịch nông nghiệp
Khoa học
Đoàn khách
Lịch sử sản vật
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
21 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
DU LỊCH NÔNG NGHIỆP
Mô hình du lịch nông nhiệp là một lối thoát cho chính sách nông nhiệp, nông thôn và nông dân

Kiến nghị 1: Bảo đảm lợi ích kinh tế của từng nông hộ là vấn đề then chốt của chính sách nông thôn, nông dân và nông nghiệp.

Sau mười năm thực hiện chính sách đổi mới theo cơ chế thị trường, đẩy nhanh tốc độ phát triển đô thị và công nghiệp, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Nhưng bên cạnh đó đã bộc lộ những nguy cơ suy thoái về môi trường cảnh quan và đạo đức văn hóa của một xã hội thoát thai từ một nền kinh tế thuần nông. Một nguy cơ nữa là sự mất đất nông nghiệp một cách dễ dàng vào tay các ông chủ lớn trá hình bởi các tập đoàn, công ty qua việc thi hành luật rất mơ hồ về chủ sở hữu đất nông nghiệp, người nông dân dễ dàng bị mất đất vì không được xem là ông chủ số tài sản đất mà nhiều đời cha ông của họ đã canh tác trên đó. Điều này hoàn toàn trái ngược với toàn bộ mục đích của cuộc cách mạng dân tộc do Bác Hồ lãnh đạo là chia ruộng đất cho dân cày với biết bao xương máu của cả dân tộc đổ xuống. Trong cuộc hội thảo về tam nông diễn ra mới đây tại TP. Hồ Chí Minh đã có ý kiến: “Nếu mức sống đô thị và nông thôn quá xa, quá khác thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra thành phố. Điều này sẽ phá nát đô thị và cũng xô đổ văn hóa nông thôn”. Mất tư liệu sản xuất chính yếu là đất đai hoặc không sống được bằng sản phẩm trên số đất nông nghiệp đó gây nên tâm lý chán đất, người nông dân phải tìm cách tha phương cầu thực và trở thành bần cùng hóa. Nếu quá trình này diễn ra tiếp tục trên diện rộng với những tham vọng xây dựng những đô thị khổng lồ cỡ Megacity và hàng lọat các khu công nghiệp khắp mọi nơi dưới sự quản lý yếu kém hữu khuynh và nạn đút lót tham nhũng thì đã, đang và sẽ xảy ra những thảm họa môi trường sinh thái nghiêm trọng với giá phải trả không thể tính đếm được. Điển hình là các làng ung thư xuất hiện ở nhiều miền đất khác nhau ngày càng nhiều, tốc độ cũng như số lượng người dân bị các bệnh nan y hiểm nghèo đang giữ vị trí cao nhất nhì thế giới. Quá trình công nghiệp hóa và tiếp nhận đầu tư mọi giá bất chấp các tiêu chí bảo vệ môi trường sinh thái thiên nhiên mà môi trường này cho đến nay vẫn  là chỗ dựa chính cho sự tồn tại phát triển về nhiều mặt của 80% dân số  nông nghiệp sống tại hàng vạn bản làng, thôn xóm ở nước ta. Tốc độ phá hoại đã có lúc và có nơi ngấp nghé ngưỡng hủy diệt. Chỉ mới hơn mười năm, ở nước ta đã diễn ra sự phá hoại trầm trọng tài nguyên đa dạng sinh học thuộc trong 16 nước cao bậc nhất thế giới bởi việc chặt phá rừng nguyên sinh ồ ạt, khai thác triệt để các dãy núi đá vôi, nơi tạo ra nguồn nước ngầm to lớn và các hệ động thực vật, các loài thảo dược phong phú để  làm các nhà máy xi măng, khai thác quặng, gỗ tự nhiên, v.v.. Các khu công nghiệp ven biển, ven các dòng sông lớn không xử lý chất thải độc hại, thải thẳng ra môi trường đã làm suy thoái các thềm lục địa biển ven bờ, các thềm phù sa cổ của các hệ thống sông, các hệ sinh thái đầm, hồ, lạch, phá, v.v.. Đa dạng sinh học là chiếc nôi sống, nơi sản sinh ra thảm phủ sinh thái tự nhiên cho việc phát triển và tồn tại bền vững một nền  sinh thái nông nghiệp với các sản vật độc đáo. Các sản vật nông nghiệp mang đậm sắc thái tự nhiên của mọi miền đất nếu được hỗ trợ bằng các chính sách đúng đắn, có luật bảo hộ và được ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp sẽ tạo ra đựợc các sản phẩm hàng hóa lớn thương hiệu Việt cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, đó cũng chính là lợi thế cạnh tranh sắc bén cho nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Điều đó đã được thể hiện bằng các sản phẩm độc đáo như cà phê, chè, hạt tiêu, nước mắm Phú Quốc, tôm, cá tra, lúa gạo đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định đặc thù về vị thế địa lý nông nghiệp Việt Nam. Thêm vào đó, sự suy thoái kinh tế trên thế giới tại thời điểm này đã nêu bật được vị trí quan trọng của những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên  to lớn về lương thực, nguồn nước sạch và năng lượng. Phát triển kinh tế nông nghiệp trong cơ chế thị trường mở chính là việc thực hiện một tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa đủ sức cạnh tranh về số lượng và chất lượng để cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu. Nguy cơ mất đất và mất nhân lực nông nghiệp ngày đã và sẽ càng diễn ra với tốc độ nhanh hơn nếu nhà nước không hỗ trợ  xây dựng hạ tầng kỹ thuật về môi trường văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học công nghệ, tổ chức tìm kiếm thị trường và tổ chức cung ứng hàng hóa với các thông tin về quy trình kiểm soát chất lượng hết sức minh bạch.

Khoán mười đã tạo ra một cuộc cách mạng lịch sử xoay chuyển vị trí nông nghiệp của nước ta chính vì đã làm được một việc to lớn đối ngược lại với cơ chế tập trung bao cấp: các sản phẩm nông nghiệp gắn kết chặt chẽ với lợi ích của từng gia đình nông hộ sản xuất thông qua việc họ được sở hữu ruộng đất tuy tạm thời. Nông dân là người thổi hồn cho đất, là nhà bếp và là người mẹ tần tảo suốt đêm ngày nuôi tất cả các thế hệ qua bao đời nay. Nhưng cho tới nay khi ra biển lớn của thị trường mang tính cạnh tranh gay gắt, do không được tổ chức tập hợp lực lượng nên từng cá thể sản xuất nông nghiệp cảm thấy đuối sức và bất lực. Thêm vào đó, sự cám dỗ bởi mức sống cao hơn tại các đô thị đã gây xáo trộn trong nông thôn và phong trào di dân ra thành thị trở nên sôi động, gây ra nhiều mối lo ngại và tiêu cực hơn tích cực vì nông dân chưa được chuẩn bị về hội nhập văn hóa và nếp sống. Một đòi hỏi cấp bách tại thời điểm hiện nay đối với chính sách tam nông là trên nền các sản xuất cá thể cần phải áp dụng một mô hình quản lý và tổ chức mới về tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và tiếp thị tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với việc áp dụng triệt để các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp đến từng nông hộ. Quá trình thực thi Mô hình mới này cần mang tính cách mạng triệt để với ý nghĩa trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường mở, từng nông hộ phải được nhận lợi ích đích thực trên chính sản phẩm họ làm ra chứ không phải cho các tầng lớp thương lái trung gian như hiện nay. Các nông hộ phải trở thành những người lính được tổ chức và được trang bị kiến thức hoạt động trên thương trường có hiệu quả.

Việc bàn về các chính sách cơ chế và xây dựng các mô hình quản lý nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo hướng thị trường cho cặn kẽ mọi nguồn không những là trách nhiệm mà còn phải được coi là một quốc sách trước một giai đọan phát triển mới của một đất nước nông nghiệp. Mà đã là quốc sách thì rất cần sự đóng góp của các nhà lý luận và lý luận thực hành không chỉ về mặt lý luận mà còn phải mang tính thực tiễn và thời sự cấp bách. Cần áp dụng thí nghiệm các mô hình điểm, nếu thành công phải nhân rộng, không làm kiểu đánh trống bỏ dùi trên sự hỗ trợ toàn diện quyết liệt của toàn bộ bộ máy quản lý của Đảng và Chính phủ các cấp. Chỉ khi đó mới có thể ngăn chặn được quá trình ly nông và ly hương và bần cùng hóa tại nông thôn đang có chiều hướng gia tăng khi tiến hành đô thị và công nghiệp hóa mà chưa gắn kết hài hòa với lợi ích của đại đa số dân cư nông nghiệp như ngày nay.

Kiến nghị 2: Xây dựng mô hình Du lịch nông nghiệp - một trong những biện pháp hiệu quả bảo đảm lợi ích kinh tế cho các nông hộ và thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng hiện đại. Đề nghị ứng dụng thí điểm tại vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì trong quá trình mở rộng địa giới hành chính Thủ đô.

Nhìn ra thế giới, tại các nước phát triển cách đây 30-40 năm cũng đã diễn ra bức tranh như vậy. Ví dụ: ở Italia từ những năm 1960 tới những năm 1980, tình trạng bỏ nghề nông tăng mạnh với xu hướng ào ạt ra thành phố kiếm việc. Trong 10 năm của thập kỷ 1980, có khoảng 400.000 hộ nông dân chuyển sang nghề khác. Chính phủ Italia đã phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tình trạng như vậy cũng diễn ra ở Nhật Bản, Pháp, Mỹ, v.v. Để giải quyết vấn đề trên, chính phủ các nước đã triển khai rất nhiều biện pháp để ngăn chặn, trong đó có một hướng đã được triển khai rất hiệu quả và đã chứng minh được qua vài chục năm hoạt động là có tác dụng rất tốt với thu nhập của dân cư nông nghiệp, thay đổi nhanh bộ mặt nông thôn. Đó là việc chính phủ đã hướng sự quan tâm của cộng đồng tòan xã hội vào việc phát triển du lịch nông nghiệp - agritourism. Danh từ này có thể dùng khác nhau: Ở là “Agri-tourismo” (du lịch nông nghiệp); ở Vương quốc Anh là “Rural-tourism” (du lịch nông thôn), ở Mỹ là “ Homestead ” (du lịch trang trại), ở Nhật Bản lại là “Green-tourism” (du lịch xanh), còn ở Pháp là “Tourism de Verdure” (du lịch với cỏ cây).

Có thể gọi chung tổng quát là hình thái du lịch nông nghiệp - agritourism. Đây là một hình thức xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp tại chỗ rất hiệu quả và tiếp thị tận gốc về hồ sơ xuất xứ sản phẩm nhất là khi nhu cầu về tự bảo vệ sức khỏe trước các thức ăn và môi trường ô nhiễm của cộng đồng xã hội tại các thành phố lớn ngày càng tăng. Du lịch nông nghiệp còn là một hình thức phát triển mối giao hòa về mặt tự nhiên, văn hóa và con ngừời giữa các vùng đô thị và nông thôn thông qua việc đến ở hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương tại từng gia đình nông hộ hoặc các trang trại.… Do tầm quan trọng về mặt xã hội cũng như kinh tế nên hoạt động Du lịch Nông nghiệp bắt đầu từ Châu Âu đã được mở rộng khắp trên toàn thế giới. Hoạt động này, mục đích chính là mở ra những cơ hội nhằm tạo thêm thu nhập tại các vùng nông thôn. Ở các nước phát triển, hoạt động này đã được Chính phủ rất coi trọng và đã được luật hóa. Như ở Ý, 35 năm sau khi phát động (1960), đã đưa thành luật vào năm 1995, ở Nhật Bản: luật giải trí ở những vùng nông thôn, vùng chài cá và vùng núi được ban hành năm 1994 và thi hành vào năm 2006.

Hình thức du lịch nông nghiệp này tại một số nước đã đưa ra những kết quả về kinh tế rất đáng khích lệ như ở Ý trong năm năm từ 1985 đến 1990 doanh thu từ hoạt động kinh doanh này tăng gấp hai lần. Trong 10 năm từ 1990 đến 2000 đã tăng lên 50%. Doanh số năm 2004 là 880 triệu euro, trong đó khách trong nước là 1/4 còn lại là đến từ các quốc gia Châu Âu khác. Các gia đình thành phố đi du lịch nông thôn hầu hết thường ở từ 3 -6 ngày, mục đích số một là nghỉ ngơi, thứ hai là tham gia các sự kiện và tham quan những di sản văn hóa, thứ ba mới là ăn uống.

Tại Mỹ, mệt mỏi vì sự xô bồ của phố xá, người dân Mỹ ngày càng ưa chuộng những chuyến du lịch đồng quê. Một trang trại đã có đến hơn 1,4 triệu khách/năm; một trang trại khác mỗi năm thu 10 triệu USD lợi nhuận... Thế là nhiều nông dân đã biến trang trại và nhà cửa của mình thành nơi vui chơi giải trí hấp dẫn.

Năm 2001 đã có khoảng 62 triệu lượt người đi nghỉ tại các trang trại. Và doanh thu hàng năm do du lịch đồng quê mang lại dao động từ 20 triệu USD ở Vermont đến 200 triệu USD ở New York. Ở Hawaii, lợi nhuận từ du lịch đồng quê đã tăng 30% trong khoảng thời gian 2000-2003, lên tới 34 triệu USD. Trang trại bò sữa Jersey Dairy của gia đình Young ở Yellow Springs, Ohio thu hút hơn 1,4 triệu khách một năm. Nơi đây có cả nhà đánh bóng chày, sân golf mini, và kem sản xuất tại nhà.

Còn trang trại Country Farm & Stores của gia đình Eckert gần St. Louis, Missouri mang lại lợi nhuận 10 triệu USD một năm, trong đó 80% là từ kinh doanh nhà hàng, lò bánh mì và các cửa hàng lưu niệm.

Để giúp những người nông dân muốn chuyển sang kinh doanh du lịch đồng quê, một số bang của Mỹ đã thành lập các văn phòng du lịch đồng quê. Năm nay, bang Pennsylvania đã thiết lập quỹ tín dụng trị giá 150 triệu USD để trợ cấp và cho vay ưu đãi đối với những nông dân mong muốn chuyển sang kinh doanh loại hình du lịch giải trí mới này.

Ở North Carolina, với sự trợ giúp của văn phòng du lịch, mùa hè vừa rồi Pam Griffin đã biến trang trại thuốc lá của mình ở Fuquay-Varina thành ruộng ngô - "mê cung". Griffin và John, chồng cô chưa bao giờ trồng ngô, nhưng cô quyết định học vì cô không muốn trang trại đã trải qua 5 thế hệ của gia đình John bị bỏ hoang. Hai vợ chồng cô đã đầu tư 30.000USD vào "mê cung" và đến giữa tháng 10 vừa qua đã có khoảng 2.000 khách đến nghỉ ngơi giải trí. Trang trại Hạt dẻ ở Valley Center, California, nơi hấp dẫn hơn 10.000 khách tham quan vào những ngày nghỉ cuối tuần tháng 10, thực chất chẳng có một cây hạt dẻ nào, nhưng lại bán hàng tá loại hạt dẻ khác nhau nhập về từ khắp nơi trên thế giới.

Mô hình du lịch nông thôn rất nên được nghiên cứu tiến hành ở nước ta với việc xây dựng các chính sách vĩ mô và ban hành luật định cụ thể trong việc thực hiện như một sự hỗ trợ tích cực của các tầng lớp dân cư đô thị cho sự tăng nhanh mức sống nông thôn nhờ tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời kích thích phát triển kinh tế trang trại trên nền liên kết sản vật nông nghiệp của từng nông hộ. Đề nghị được tiến hành nghiên cứu xây dựng một mô hình điểm cho lọai hình sinh thái nông nghiệp này tại vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì để phát triển du lịch đồng quê trên các sản phẩm sữa, gà đồi, dê, thỏ, thảo dược, mật ong, nước khoáng nóng, rau sạch, rau rừng và hoa củ quả đặc sản. Việc lấy vùng đệm xung quanh núi Ba Vì còn vì tại đó có các bộ phận dân cư thuần nông đa số là dân tộc Muờng và dân tộc Dao canh tác nông nghiệp trên sự đa dạng về địa hình, cảnh quan, sinh thái thiên nhiên phong phú.

Khi Hà Nội mở rộng, do có số lượng dân cư nông nghiệp rất lớn nên việc chuyển đổi sang thành thị không chỉ là một quá trình cơ học đơn thuần mà phải yêu cầu xây dựng được các quan điểm đúng đắn về chiến lược phát triển xã hội, văn hóa, kinh tế, môi trường sinh thái, đưa ra được những hình thức và bước đi phù hợp. Cần có bản quy hoạch về các phân khu chức năng dựa trên việc nghiên cứu khoa học rất cơ bản và tổng thể  về các nguồn lực, trong đó ưu tiên hàng đầu là tài nguyên sinh thái. Đô thị có thể xây ở rất nhiều chỗ, nhưng sản vật do thiên nhiên ban tặng chỉ có ở vùng đất riêng của nó mà thôi. Với lý do trên, nên xây dựng một bản quy hoạch với mục đích chính là bảo tồn nghiêm ngặt vùng sinh thái tự nhiên của Vườn quốc gia Ba Vì (từ cos 0 cho đến đỉnh) và vùng sinh thái nông nghiệp xung quanh chân núi Ba Vì để phát triển những sản vật như sữa bò tươi nguyên chất Ba Vì đã được khẳng định là ngon vào loại nhất nhì thế giới với hương vị thơm đặc biệt (bằng số liệu theo dõi ba thành phần chính là mỡ sữa, protêin và vật liệu thô của công ty sữa quốc tế) và các sản vật khác như gà đồi, dê, thỏ, các loại rau, củ, hoa trái bản địa, các loài thảo dược, các nguồn nước ngầm tinh khiết được tạo bởi khu rừng nguyên sinh và chất liệu đá cuội, đá ong. Trong việc quy hoạch tránh việc làm mất đi lớp phủ sinh thái tự nhiên và nông nghiệp hàng triệu năm mới tạo ra được và trên đó mới có được những sản vật quý giá vô cùng cho sức khoẻ cộng đồng dân cư và nguồn thu nhập ổn định cho các thị dân nông nghiệp làm ra các sản vật đó.  Tránh việc lấy đất của các nông hộ xung quanh núi ồ ạt để làm khu đô thị và vui chơi giải trí. Còn riêng Vườn quốc gia Ba Vì do vai trò quan trọng về việc phải bảo tồn nghiêm ngặt nguồn gen tự nhiên gốc cả về thực vật lẫn động vật, là nôi sản sinh ra thảm đa dạng sinh học để có được vành đai thực phẩm sạch bền vững trong lòng Thủ đô mở rộng, nên rất cần xem xét việc ngưng cấp đất tiếp cho các khu du lịch đông người đang hoạt động ngày càng sâu càng rộng trong vườn với diện tích sẽ lên tới vài nghìn héc ta trong khi diện tích vườn từ chân núi đến đỉnh chưa đến mừơi nghìn ha. Ví dụ như khu du lịch Thiên Sơn Thác Ngà đang có kế hoạch lấy tiếp tòan bộ diện tích mặt rừng phía Đông núi Ba Vì, tuy đã có gần bốn trăm ha nằm trong khu bảo tồn để hoạt động du lịch cuối tuần. Cần xây dựng luật riêng về vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyên đất rừng của núi Ba Vì và vùng đệm chân núi Ba Vì trước sức ép phát triển của Thủ đô mở rộng.

Xây dựng chương trình hỗ trợ các nông hộ phát triển những sản vật thông qua các hoạt động du lịch đồng quê để tạo ra tầng lớp thị dân làm nông nghiệp trong thủ đô mở rộng này. Chính các thị dân nông hộ này sẽ đóng vai trò quan trọng cho việc cung cấp các sản phẩm sạch từ thiên nhiên, tạo ra một vành đai thực phẩm tinh khiết cho dân cư Hà Nội. Góp phần phát triển một thủ đô văn minh biết tôn trọng thiên nhiên, tham gia giáo dục cộng đồng cư dân đô thị và đặc biệt thế hệ trẻ bằng các hoạt động du lịch nông nghiệp sinh thái. Ngược lại, Hà Nội với vị trí là một trung tâm khoa học văn hoá và kinh tế lớn, nơi sinh sống của các chuyên gia đầu ngành của rất nhiều lĩnh vực ứng dụng và chuyển giao công nghệ, ví dụ các công nghệ bảo vệ môi truờng sinh thái, công nghệ bảo tồn quỹ gen thiên nhiên, mô hình bảo vệ sức khỏe cộng đồng, mô hình quản lý hiện đại trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao nhanh chóng mức sống của các nông hộ, mô hình tổ chức các khía cạnh văn hóa xã hội cho việc  phát triển các đô thị sinh thái phát triển từ làng xã, bản dân tộc, sự giao thoa nếp sống đô thị và nông thôn với việc giữ gìn được bản sắc văn hóa thì các vùng trên sẽ là địa bàn nghiên cứu và thực hành lý tưởng thông qua các hoạt động của du lịch nông nghiệp.

Vùng sinh thái nông nghiệp xung quanh chân núi Ba vì nằm trong Thủ đô mở rộng phải được xây dựng trở thành một mô hình mẫu chuẩn mực cho nền du lịch nông nghiệp Việt nam với các lý do sau đây:

 - Hà Nội luôn là trung tâm của nền văn minh nông nghiệp sông Hồng rực rỡ hàng nghìn năm nay.

- Ngôi núi Tổ Ba Vì là một lá chắn cả về ý nghĩa tâm linh và cả về ý nghĩa môi trường sinh thái tự nhiên cho tòan bộ cư dân Hà Nội.

Tại Việt Nam, không phải không có những hoạt động du lịch này, đã có như tại Sapa, Khánh Hòa, một số tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ v..v. nhưng cho đến nay vẫn được coi là những hoạt động lẻ tẻ,  ngành du lịch chưa xây dựng lý luận, phương hướng phát triển và phổ cập phát triển để trình Chính phủ loại hình kinh tế du lịch quan trọng này tại một nước nông nghiệp như Việt Nam.

Ts. Ngô Kiều Oanh

Hà Nội - Tháng 07 năm 2008

Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam

 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam