Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
21 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
MỤC LỤC CÁC Ý KIẾN


Ý kiến của ông Nguyễn Tiến Quân

Buổi toạ đàm: Ý tưởng xây dựng dự án quy hoạch tổng thể vùng tập trung sản xuất và cung cấp thực phẩm đa dạng gốc thiên nhiên tươi sạch, an toàn tại 5 huyện xung quanh chân núi Ba Vì (Ba Vì, Thạch Thất, Sơn Tây, Đan Phượng và Phúc Thọ) (new)

Ý kiến của ông Nguyễn Tiến Quân - Chủ tịch Liên minh HTX Trung ương

Ý kiến của ông Ngô Thế Dân, Phó chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam nguyên Thứ trưởng bộ NN & PTNT

Ý kiến GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh Chủ tịch hội động vật Việt Nam

Ý kiến của GS. TS Trần Xuân Cảnh - Viện trưởng Viện sinh thái tài nguyên sinh vật - Viện khoa học công nghệ Việt Nam

Ý kiến của GS. TS Trương Nam Hải - Viện trưởng Viện công nghệ sinh học - Viện khoa học công nghệ Việt Nam

Phân tích sơ bộ những điều kiện địa lý cảnh quan phục vụ Quy hoạch vành đai cung cấp sản phẩm tự nhiên vùng đệm xung quanh núi Ba Vì (Phạm Thế Vĩnh)

Tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng năng lượng vũ trụ và trái đất phục vụ sức khỏe con người (Dịch từ tài liệu quốc tế, Tháng 9/2008)

Phác thảo nội dung xây dựng và phát triển làng truyền thống cây thuốc dân tộc Dao Ba Vì (TS. Ngô Kiều Oanh - Viện KHCN VN)

Báo cáo ý tưởng về xây dựng hệ thống các căn cứ khoa học cho việc Quy hoạch và Xây dựng vùng cung cấp thực phẩm gốc tự nhiên tươi sạch an toàn cho cư dân Thủ đô Hà Nội tại vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì (Tiến sĩ. Ngô Kiều Oanh)

Ý kiến của ông Hà Huy Lợi - Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Ngôi sao về Du lịch nông nghiệp (Ninh Bình)

Ý kiến của GS-TS T.W.Allan Whitfield FRSA - Giảng viên nghiên cứu Đại học Công nghệ Swinburne, Australia về ngôi làng lịch sử Đường Lâm

Ý tưởng chuyển vùng sản xuất bưởi Diễn, cam Canh - đặc sản quý của Thủ đô Hà Nội trong tương lai

 


 

BUỔI TOẠ ĐÀM: Ý TƯỞNG XÂY DỰNG DỰ ÁN QUY HOẠCH TỔNG THỂ VÙNG TẬP TRUNG SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP THỰC PHẨM ĐA DẠNG GỐC THIÊN NHIÊN TƯƠI SẠCH, AN TOÀN TẠI 5 HUYỆN XUNG QUANH CHÂN NÚI BA VÌ

(Ba Vì, Thạch Thất, Sơn Tây, Đan Phượng và Phúc Thọ)

 Hà Nội, tháng 07/2009
 

1- TS. Nguyễn Quang Thái (Hội KH kinh tế Việt Nam) – Chủ tịch buổi toạ đàm

    - Tầm quan trọng về vấn đề thực phẩm: Vấn đề này đã được nói cách đây 10 năm và đã có nhiều giải pháp chương trình nghiên cứu, gần đây đã được bàn rất gay gắt trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa 10, nhưng kết quả đạt được vẫn rất khiêm tốn, con đường đi rất dài có nhiều điều phải bàn cãi.

    - Buổi tọa đàm gồm 3 nội dung:

    + Thực trạng phương thức giải quyết vấn đề ATTP vừa thực tiễn, vừa lý luận ở nước ta;

    + Vệ sinh ATTP mang tính hệ thống, mang tính hiệu quả cho toàn xã hội phát triển bền vững;

    + Vấn đề kỹ thuật cụ thể, nhóm các nhà khoa học thuộc Viện KHCN VN làm một số thử nghiệm ban đầu ở Ba Vì nêu một ý tưởng ban đầu mà cách tiếp cận làm sao hướng đến vừa mang tính khoa học công nghệ vừa đi sâu vào tính kinh tế, lâu dài đảm bảo tính an toàn bền vững.

    Đây là ý tưởng mới, rất mong các đại biểu thảo luận để Thủ đô của chúng ta có một vùng rau an toàn, mở ra một vấn đề thực phẩm nói chung và thậm chí là vấn đề giữ quỹ gen tự nhiên. 

2- TS. Kiều Oanh (Viện KHCN Việt Nam)

    Đây là buổi tọa đàm đầu tiên và mong rằng sẽ còn nhiều buổi khác nhau. Buổi đầu tiên này đã khơi dậy một cách làm, một ý tưởng, một cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề ATTP đang rất cam go ở nước ta.

    Đứng trên giác độ của các nhà khoa học cơ bản, chúng tôi thấy từ trước đến nay vấn đề ăn, uống, vấn đề sinh hoạt, đời tư rất bình thường, không được coi là vấn đề quan trọng trong chính sách vĩ mô. Có lẽ các nhà chính sách vĩ mô chỉ quan tâm đến hiện đại hóa, đến công nghiệp, đến phát triển đô thị. Nhưng đến nay khi vấn đề này nổi nên rất bức xúc về hậu quả xã hội, bệnh tật, môi trường đã gióng lên hồi chuông báo động, làm ta lo lắng bất an về vấn đề ATTP, bất an trong từng gia đình đã nảy ra một vấn đề xã hội nghiêm trọng. Cách giải quyết như thế nào? Chúng tôi đã đi dự nhiều hội nghị về vấn đề rau an toàn và thấy rằng mặc dù chúng ta làm rất nhiều, nhà nước đầu tư nhiều nhưng đến nay chưa có lối thoát triệt để. Vấn đề này (thực phẩm bẩn không an toàn) có thể ảnh hưởng đến vấn đề giống nòi, vấn đề sức khỏe và nhiều vấn đề khác và thậm chí có bài báo đã viết rằng ảnh hưởng đến vấn đề chính trị.

    - Đã nghiên cứu và mạo muội đưa ra một số các phương pháp tiếp cận từ các nhà khoa học cơ bản. Mong muốn sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia ở đây. Đây chỉ là ý tưởng còn thực hiện ntn thì rất cần phải nối vòng tay lớn, cần rất nhiều các bộ óc khác nhau, đoàn kết lại để chiến đấu trên mặt trận này.

    - Với bất cứ một ý tưởng mới nào đầu tiên để đưa ra một cách giải quyết, một công nghệ mới, một hướng mới đều rất cam go. Đây không phải là vấn đề chỉ cho chúng ta mà cho các thế hệ, con cái, gia đình chúng ta, cho thủ đô HN của chúng ta đang sống. Làm thế nào để thủ đô HN trở thành thủ đô sạch, an toàn trong vấn đề thực phẩm.

    Đây là phương pháp mở, chúng ta cùng cất tiếng nói để mọi người cùng đóng góp chứ không chỉ là vấn đề của một nhóm người, hay chỉ là của một cơ quan chuyên môn nào đấy.

    - Đây không phải là quản lý ATTP tại 5 huyện mà ở đây nói về ATTP với các ý sau:

    + Quan điểm giải quyết như thế nào?

    + Từ quan điểm nói về cơ chế, chính sách vĩ mô

    + Mô hình thực nghiệm xuyên suốt (đây là cái rất thiếu của chúng ta)

    Với văn hóa nhiệm kỳ chúng ta sẽ không làm được việc gì cho đến đầu đến đũa cả, nhất là những vấn đề phức tạp, vấn đề len lỏi vào đời sống như thế này cả. Điều này cũng có lỗi ở các nhà khoa học, nhưng các nhà khoa học phải được đầu tư đầy đủ mới đưa ra được một công cụ, một hệ thống để nhà nước cũng như cơ quan chức năng dựa vào công cụ đó để ra được một hệ thống thực hiện giải quyết mang tính bền vững, lâu dài phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Các Bộ, Ngành cũng đi nước ngoài rất nhiều và đọc tài liệu rất nhiều, tại sao vẫn không giải quyết được thấu đáo. Một câu hỏi đặt ra, phải chăng mô hình về ATTP chưa thật sự được ứng dụng được một cách hữu hiệu tại Việt Nam (Vd: mô hình GAP với rau ở Việt Nam trong vòng 2 năm đã phải đổi 3 lần).

    - Lý do để mở rộng Hà Nội là phải có một vành đai cung cấp TPAT trong đó có rau. Đã nghiên cứu các vùng xung quanh HN, nhìn 5 phương 4 hướng của Hà Nội chỉ còn vùng xung quanh chân núi Ba Vì, gồm 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Sơn Tây, Đan Phượng và Phúc Thọ.

    - Tại sao chúng ta không thể làm một mô hình thử nghiệm xuyên suốt từ ý tưởng đến thực thi, từ trang trại đến bàn ăn, từ đồng ruộng đến siêu thị, từ vĩ mô đến cơ chế chính sách. Đây là cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề ATTP.

    - Giới thiệu vùng thực phẩm đề xuất trên hệ thống bản đồ số với quan điểm trước hết phải tập trung vào vấn đề quy hoạch, nếu không có quy hoạch về tất cả các yếu tố: tự nhiên, văn hóa truyền thống, nguồn gen bản địa sẽ không có sự bền vững lâu dài về mặt bảo tồn và phát triển.

    - Giới thiệu những hàng hóa đặc sản của Ba Vì trên bản đồ: đặc sản chăn nuôi (Dê, cừu, thỏ,..), cây nông nghiệp (cây ăn quả, măng, chè,..).

    Sau quy hoạch phải xây dựng Mô hình quản lý vì ở đây giải quyết tận cùng vấn đề ATTP không phải là vấn đề kỹ thuật nữa mà vấn đề nóng bỏng, vấn đề cần giải quyết nhất là vấn đề có được một mô hình quản lý thích hợp. Chúng tôi đã chọn 5 huyện này vì rất đa dạng về thực phẩm, có quỹ để bảo tồn gen (ở đây có quỹ gen vô cùng quý giá về động thực vật, về côn trùng đa dạng). Giữ quỹ gen này là một vấn đề khẩn cấp, bức xúc và hết sức cần thiết.

    Rau an toàn là vấn đề nóng bỏng, bức xúc, nhưng rau an toàn không quy hoạch, không để ý đến các điều kiện tự nhiên (nguồn nước, thổ nhưỡng,…) thì việc có được rau an toàn cũng khó giải quyết. Thường có 2 loại rau có thể phát triển thành sản phẩm hàng hoá đó là:

    + Rau thông dụng (RAT) cho phép sử dụng thuốc BVTV nhưng trong khuôn khổ cho phép có thể kiểm soát được.

    + Rau tự nhiên.

    -> Click vào đây để xem:  Ý tưởng của nhóm khoa học

3- Bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng (TGĐ Cty Cổ phần sản xuất Thực phẩm và TP chức năng Thăng Long):

    Đã công tác tại UBKH Nhà nước 40 năm, là một trong những tác giả của chương trình VAC, đã lăn lộn nhiều ở các vùng nông thôn Việt Nam.

    Với văn hóa nhiệm kỳ và nạn tham nhũng chúng ta không thể làm được. Hiện tại chúng ta đang ngồi đây nhưng được ví như “ếch ngồi đáy giếng”, không có ai nghe.

    Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn bởi vì điều này phải được Bộ Chính trị ra nghị quyết đặc thù cho Thủ đô Hà Nội mới làm được. Ngay cả chương trình VAC ngày trước cũng phải được Phó Thủ tướng ra nghị quyết đặc thù mới thành công.

    Những người có uy tín, có trách nhiệm phải lên kêu tận Bộ Chính trị ra nghị quyết đặc thù cho thủ đô HN, có như thế chúng ta mới làm được.

    Hậu quả của việc mất về sinh ATTP đưa đến số lượng bệnh nhân ung thư ngày càng tăng:

        - Trước kia 1 ngày chỉ khám 50 – 100 người.

        - Bây giờ 1000 – 1200 người/ngày.

    Cái độc hại này không ai không biết cả, nhưng không làm được.

    Ở đây chúng ta phải đi ngược lại, cơ quan truyền thông đi trước đưa các thông tin của các nhà khoa học lên, vậy liệu có thành công không ?.

4- TS. Bùi Tâm Trung (Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên môi trường VN – Tp. Hà Nội)

    - Trước đây HN có diện tích 560km2, khoanh vùng rau sạch: Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm.

    - Sau đó HN mở rộng ra 927km2, tiếp đến HN mở rộng diện tích 2000 km2 có khoanh Ba Vì và Sơn Tây vào nhưng không khoanh vùng rau sạch ở đó.

    - Bây giờ HN có diện tích 3000 km2 thì quy hoạch thế nào chưa rõ.

    - Mục đích và sự cần thiết của dự án rất hợp lý.

    - Căn cứ khoa học: Dù mới chỉ là ý tưởng nhưng nhóm tác giả đã nghiên cứu tương đối kỹ về tài nguyên sinh thái ở vùng dự án.

    - Khó khăn: Vì sao Sở KHCN HN chưa chấp nhận ý tưởng trên của các nhà khoa học ?

    Vì: Trước khi HN quy hoạch 2000 km2, quy hoạch phân vùng chưa rõ. Bây giờ là 3000 km2 thì càng không rõ. Vì vậy ông Giám đốc Sở KHCN HN từ chối không phải vì không muốn làm mà vì không có quy hoạch chung nên không xác định được như thế nào cả.

    Phải có quy hoạch để từ quy hoạch đó ta mới thực hiện phần tiếp theo. Nếu chúng ta đặt vấn đề làm quy hoạch thay cho HN là khó có thể. Nên kiến nghị 1 của dự án mặc dù hay nhưng HN không chấp nhận?

    Phương án 2: tách ra làm từng dự án nhỏ, nhưng thực chất là cái này phục vụ cái kia. Nếu chúng ta được chấp nhận chúng ta nên tập trung vào một vấn đề cụ thể nào đó. Quy hoạch không phải là chức năng của mình mà mình lại làm thay cho họ thì họ sẽ khó chịu.

    TS. Kiều Oanh: Các nhà khoa học không làm thay quy hoạch, nhưng các nhà khoa học (đặc biệt là Viện KHCN VN) có nhiệm vụ trong vấn đề điều tra cơ bản để xây dựng căn cứ khoa học cho quy hoạch. Từ trước đến nay các nhà quy hoạch quên mất rằng phải sử dụng những điều rất quan trọng đó, họ chỉ biết vẽ trên bề mặt. Họ quy hoạch không có căn cứ khoa học nên các nhà khoa học mới phải có ý kiến.

5- TS. Đặng Huy Huỳnh (Viện KHCN Việt Nam):

    - Đã kết hợp với TS. Kiều Oanh làm ra Hệ thống thông tin bản đồ số về các vườn quốc gia ở VN.

    - Ủng hộ quan điểm của TS Kiều Oanh về vùng Ba Vì.

    - Đã viết một bức thư gửi ông Thảo – Chủ tịch thành phố về bức xúc vùng Ba Vì nói về suy nghĩ của người dân HN về vùng Ba Vì đối với HN.

    - Quy hoạch vùng Ba Vì: Hoàn toàn nhất trí (vùng rau, dân tộc, văn hóa,…) đặc biệt khi HN mở rộng và trước khi HN mở rộng Ba Vì vẫn là HN. Đã đưa sinh viên đi thực địa Ba Vì từ những năm 1961 và rất tâm đắc với Ba Vì. Rất hiểu đất, nước vùng Ba Vì nên tôi rất ủng hộ ý tưởng trên.

    - Các nhà quản lý hầu như không tham gia vào các cuộc hội thảo khoa học, nếu có đến chỉ để mở màn rồi bỏ đi. Điều này hoàn toàn không hợp lý và đáng buồn cho văn hóa cầm quyền của nước ta hiện nay.

    Các nhà quản lý muốn phục vụ dân, làm dân giàu nước mạnh phải có kế hoạch cụ thể, mà muốn có kế hoạch cụ thể phải nghe dân nói. Dân cũng có nghĩa là tầng lớp khoa học.

    - Với các nhà chính trị phải kiên trì thuyết phục.

    - Ủng hộ chương trình Ba Vì đặc biệt là khi vấn đề khí hậu biến đổi nghiêm trọng như hiện nay. Ba Vì rất cần thiết cho thủ đô Hà Nội của chúng ta để trở thành vùng cung cấp thực phẩm sạch cho thủ đô của chúng ta.

    Bộ não của chúng ta phụ thuộc vào thực phẩm, mà thực phẩm của HN phải dựa vào Ba Vì.

    - Khi thuyết phục Hà Nội không được, phải vận động nhiều nguồn kinh phí khác nhau như của Viện KHCN VN.

    - Rất kỳ vọng HN sẽ nghe và cùng các nhà khoa học làm những việc có ích cho nhân dân HN nói chung, nhân dân VN nói riêng.

6- TS. Phạm Thế Vĩnh (Viện Địa lý - Viện KHCN Việt Nam)

    - Để tìm ra tiềm năng của vùng nào đó cho một đối tượng sản xuất thường tiếp cận theo hướng nghiên cứu cơ bản, tức là nghiên cứu theo điều kiện tự nhiên của nước ta. Đã thu thập và phân tích về địa chất, địa mạo, các điều kiện thủy văn, khí hậu, tính đa dạng sinh học (tính đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, tính đa dạng về nông nghiệp) của vùng Ba Vì.

    Sau khi đã liên kết các điều kiện trên, đã xây dựng bản đồ sinh thái cảnh quan từ đó tiến hành phân tích chức năng của các vùng sinh thái cảnh quan đó.

    Thực tế không riêng HN, mà cả VN của chúng ta đều có tình trạng các quy hoạch của chúng ta thiếu cơ sở khoa học.

    Trong thiên nhiên có quy luật phân hóa của tự nhiên mà những quy luật phân hóa nó tuân thủ những quy luật của địa lý, tuân thủ các quy luật sinh học.

    Các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản chưa mạnh dạn nói lên ý kiến của mình để làm cơ sở khoa học. Đây cũng là lỗi của các nhà khoa học cơ bản.

    Để xác định vùng này có phải là vùng có khả năng phát triển hay không, chúng tôi đã nghiên cứu tổng thể sự phân hóa điều kiện tự nhiên của HN cũ và mới.

    Trong quá trình nghiên cứu về sinh thái cảnh quan của HN, Hà Nội được phân làm 4 vùng cơ bản:

    + Phía Bắc và Đông Bắc (Sóc Sơn, Đông Anh, phía Bắc sông Hồng): Ở đây đa phần là đồng bằng đồi của hệ tầng Vĩnh Phúc. Điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu không đáp ứng để phát triển nông nghiệp.

    + Phía Nam: Phần lớn là diện tích đất trũng, đất phù sa glay. Hiện tại đây là vùng ô nhiễm mạnh nhất ở thủ đô HN.

    + Vùng trung tâm HN chạy dọc về phía Tây: Đây là vùng chuyển tiếp giữa 2 thành tạo. Vùng này cũng không đáp ứng được mục tiêu xây dựng vùng thực phẩm an toàn.

    + Vùng xung quanh chân núi Ba Vì là hợp lý và có cơ sở khoa học.

Lý do:

    + Hệ thống đứt gãy kiến tạo tương đối dày đặc. Vai trò của hệ thống này ảnh hưởng rất lớn đến tầng dầy của đất, ảnh hưởng đến mật độ mạng lưới thủy văn, ảnh hưởng đến tính đa dạng của tự nhiên, đến vấn đề môi trường trên vùng đất đó (có phóng xạ yếu), ảnh hưởng đến quỹ gen của vùng này tạo ra những sản phẩm đặc thù của vùng đó.

    + Khí hậu: thể hiện khí hậu 4 mùa tương đối rõ của đồng bằng bắc bộ.

    + Tính đa dạng của hệ động thực vật, côn trùng, đa dạng cảnh quan, kinh tế - xã hội.

    + Môi trường văn hóa tâm linh đặc thù của vùng Ba Vì.

    Nếu HN tập trung phát triển vùng này thì vùng này có đầy đủ các điều kiện tự nhiên, xã  hội, có đủ các điều kiện khoa học để phát triển.

    - Về mặt kiến tạo: Đây là vùng tiếp giáp giữa 2 tác động rất lớn đó là phần nền Hoa Nam ở phía Đông Bắc và các đới kiến tạo ở phía Tây. Ở đây có hoạt động kiến tạo đứt gãy sông Hồng rất mạnh. Hoạt động của đứt gãy này nó lưu lại ở mức độ cà nát, tầng dầy của độ phong hóa, chế độ điện nhiệt địa chất, điện nhiệt của vỏ phong hóa và đất.

    Ở phía hữu ngạn sông Hồng là đứt gãy kiến tạo theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Chính hệ thống này tạo ra một năng lượng điện nhiệt mạnh ảnh hưởng đến môi trường văn hóa tâm linh, đất địa linh mà lãnh thổ chúng ta đang nghiên cứu nó thuộc một phần dải địa linh đó.

7- Trịnh Bá Dương (Liên minh sản xuất xanh VINAFARM):

    - Truyền thông, giáo dục ý thức về môi trường, sức khỏe cộng đồng.

    - Nên làm song song một mặt vận động các nhà quản lý các cấp, tiếp tục liên kết với truyền thông, làm công tác cộng đồng kết hợp giữa du lịch nông nghiệp (nông nghiệp hữu cơ) đưa người tiêu dùng đi tham quan các mô hình trang trại để người tiêu dùng hiểu biết được nguồn gốc sản phẩm đó.

    Mục đích: mối quan hệ giữa người tiêu dùng gần người sản xuất hơn, chia sẻ với nhau và cùng cam kết chỉ sản xuất sạch bảo vệ sức khỏe cho mọi người. Từ đó người tiêu dùng không mất niềm tin vào các sản phẩm trên thị trường. Người sản xuất sẽ có lợi nhuận và thị trường tiêu thụ cao hơn.

8- Mai Văn Tưởng (Dự án Nông nghiệp hữu cơ - Hội Nông dân Việt Nam):

    - Đang thực hiện dự án nông nghiệp hữu cơ. Đã triển khai tại 9 tỉnh và dự án đã thực hiện được 4 năm và tiến triển tốt.

    - Người nông dân rất thích dự án này.

    - Người tiêu dùng rất quan tâm.

    - Rất nhiều nhà kinh doanh đã tham gia.

    - Nông nghiệp hữu cơ là nông nghiệp tự nhiên, nếu sản xuất được nông nghiệp hữu cơ sẽ giữ được cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao an toàn cho người sử dụng, không làm ô nhiễm môi trường, sẽ cho thu nhập cao hơn.

    - Rất đồng ý với ý tưởng của TS. Oanh

    - Điều kiện tự nhiên hoàn toàn phù hợp để phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuy nhiên việc thực hiện rất khó khăn vì cho đến nay CPhủ VN chưa có chính sách nào cho phát triển nông nghiệp hữu cơ.

    - Phối hợp với Bộ Nông nghiệp xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ. Đang phối hợp với Bộ NN về kế hoạch hành động, cuối năm 2009 sẽ ra bản dự thảo phát triển chính sách nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam. Rất mong khi bản dự thảo này sẽ được các cấp, các ngành phê duyệt.

    - Hoàn toàn ủng hộ với ý tưởng trong báo cáo, sẽ có trách nhiệm đề nghị các cấp quản lý.

    - Sẽ hợp tác và hỗ trợ chia sẻ kỹ thuật cho chương trình.

9- ThS. Nguyễn Thị An (Viện nghiên cứu Rau quả)

    - Rau là nhu cầu hàng ngày của mỗi người, nhưng không có cơ sở, đơn vị nào bảo hành.

    - Đã đảm bảo số lượng rau 112kg/người/năm tương đương mức bình quân của thế giới. Tuy nhiên mức độ ATTP rất nan giải và chưa có giải pháp nào để quản lý.

    3 giải pháp để sản xuất RAT:

    - Giải pháp tổ chức quản lý

    - Giải pháp KHKT

    - Giải pháp thị trường

    Giải pháp KHKT: hàng ngũ KHKT của ta hoàn toàn có thể quản lý được, chúng ta có thể chỉ đạo được nông dân, có thể quản lý theo tiêu chuẩn GAP để ra các sản phẩn RAT, nhưng nhà nước chưa có cơ chế quản lý người nông dân, chưa có ràng buộc cụ thể.

    Chưa có giải pháp thị trường, ở bất cứ đâu người dân cũng bán được sản phẩm, rất khó quản lý.

    - Lượng rau của HN khoảng 50 – 60% sản xuất tại vùng rau HN, 40 – 50% là đưa từ các tỉnh ngoài vào, rất khó quản lý quá trình sản xuất. Giải pháp quản lý khó khăn trong việc quản lý RAT.

    - Ba Vì có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất RAT; đất, nước và khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển rau. Có thể trồng cả rau ôn đới trong điều kiện mùa hè (bắp cải, súp lơ, su hào,…).

    - Sinh thái rừng đa dạng nên đảm bảo sâu bệnh không bao giờ phát triển thành dịch bệnh.

    - Việc sử dụng thuốc BVTV sẽ hạn chế rất so với các vùng khác.

    - Người nông dân HN hoàn toàn hiểu quy trình trồng RAT ntn, và hoàn toàn có thể trồng được RAT nhưng họ không làm vì mục đích kinh tế. VD: Thay vì sử dụng phân hữu cơ thì người ta sử dụng phân vô cơ, thay vì thuốc BVTV sinh học, người nông sân sử dụng thuốc mua trôi nổi rất rẻ ngoài chợ và sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng bừa bãi vì lợi nhuận.

    - Người dân Ba Vì mới bắt đầu mô hình trồng rau theo hướng tập trung nên rất dễ hướng dẫn bà con.

    - Ba Vì có nguồn rau bản địa phong phú (cây rừng vừa làm rau vừa làm thuốc).

    - Đã đăng ký dự án: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây rau bản địa vùng núi Ba Vì – HN”.

    Rau bản địa mang tính chất thích nghi với vùng tiểu khí hậu ở đó, làm tăng chủng loại rau ăn ở Hà Nội.

    - Phải phối hợp với các nhà quản lý (không phải là 4 nhà nữa mà là 5 nhà), điều này là quan trọng. Nhưng rất buồn các nhà quản lý chưa nghe các nhà khoa học.

    - Tình trạng xảy ra ở các tỉnh có những vùng lúa nước đã sẵn sàng chuyển hàng trăm ha xây dựng các trường đại học, khu công nghiệp. Vùng lúa nước được hình thành phải mất hàng trăm năm mà chỉ vài tháng đã bị san bằng. Điều này vô cùng lãng phí.

    - Một ngày có hàng trăm tấn rau Trung Quốc đổ vào Việt Nam. Rau Trung Quốc dùng thuốc bảo quản độc. Đã phản ảnh với các nhà quản lý thuộc Bộ Nông nghiệp nhưng các nhà quản lý còn rất thờ ơ.

10- TS. Phạm Quang Anh (Đại học KHTN – ĐHQG Hà Nội):

    - Phải vượt qua được văn hóa quản lý rất kém về ATTP.

    - Tập thể phải gửi thư cho các nhà quản lý kèm hồ sơ nghiên cứu sẽ được để ý.

    - Quy hoạch vùng (5 tiểu vùng). Các tiểu vùng khác đã công nghiệp hóa hết, tiểu vùng Tây Nam đang bị ô nhiễm, chỉ có vùng Ba Vì mới đáp ứng đủ điều kiện để phát triển.

    Nếu tổ chức được vùng này (tổ chức lãnh thổ, tổ chức quy hoạch) thì đây là một vùng cung cấp TPAT duy nhất của HN.

    - Có một vũ khí mạnh hơn cả bom nguyên tử đó là bom đôla huỷ hoại văn hoá ứng xử. Hiện nay môi trường văn hóa của chúng ta kém tức ứng xử giữa con người với con người kém, ứng xử giữa con người và thiên nhiên rất kém dẫn đến hệ sinh thái thiên nhiên là nôi của sinh thái nông nghiệp bị huỷ hoại.

    TS Kiều Oanh: Cần phải nối vòng tay lớn để vượt qua hàng loạt các rào cản gây ra bởi thói quan liêu vô trách nhiệm và vô cảm của một số các nhà quản lý cấp vĩ mô trong vấn đề ATTP. Rào cản kinh khủng nhất là không có văn hóa lắng nghe từ các nhà quản lý đó.

    Bác sĩ Trọng: Cố gắng tìm ra lộ trình để người dân biết để từng người một phải có  ý kiến chứ chúng ta biết không thì chưa đủ. Phải phối hợp với nhiều phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, truyền hình, radio,..) để từng người phải biết vấn đề này.

11- TS. Đặng Cẩm Hà (Viện Công nghệ Sinh học - Viện KHCN Việt Nam):

    - Việc về ý tưởng xây dựng vùng TPAT tại 5 huyện xung quanh chân núi Ba Vì là rất khó nhưng hy vọng cả tập thể chung tay sẽ lay động được các nhà quản lý trong lĩnh vực ATTP có cách nhìn và cách hành động tích cực hơn.

 


 

Ý KIẾN CỦA ÔNG NGUYỄN TIẾN QUÂN - CHỦ TỊCH LIÊN MINH HTX TRUNG ƯƠNG

Đề án tổng thể cần gắn với chủ trương của các bộ ngành như sau: Phải gắn các hoạt động phát triển nông nghiệp với bảo vệ truyền thống bản địa, bảo vệ tài nguyên sinh thái, phát triển du lịch. Phải xóa bỏ tình trạng đơn độc của từng nông hộ trong kinh tế thị trường vì họ không bao giờ làm nổi nếu chỉ một mình đơn độc. Chưa ai nghiên cứu về không gian sống của người nông dân gắn liền với vườn ruộng, con bò con bê, sản vật dân tộc truyền thống, … Các dự án trong chương trình phải giải quyết các vấn đề sau đây: Quy hoạch thành phố Hà Nội mở rộng như thế nào với địa bàn nông thôn, chương trình đề án về du lịch nông thôn được gắn kết như thế nào với du lịch truyền thống hiện nay, làm sao gắn được hoạt động của liên minh HTX , làm sao gắn được với chương trình nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Cần nhấn mạnh lợi ích của các nông hộ trong giai đoạn mới khi vào thủ đô bằng cách phải tôn trọng nguyện vọng của họ, họ không thể biến thành người khác được. Nên phải giữ gìn thiên nhiên, sinh thái trên đó là truyền thống về phương thức canh tác, nếp sống và nền văn hóa bản địa. Do vậy có bốn vấn đề cần đặt ra trong các đề án

- Bảo tồn giữ gìn phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc biệt là các sản vật, nền nông nghiệp sinh thái, nền văn hóa truyền thống.

- Bảo đảm và tôn trọng lợi ích của các nông hộ.

- Nghiên cứu các hình thức du lịch nâng cao sản phẩm nông nghiệp.

- Tập hợp người dân trong các tổ chức do chính họ lập ra. (Kinh tế, văn hóa, xã hội) ví dụ HTX, tổ sản xuất, câu lạc bộ của chính họ. Đích thân chủ tịch liên minh HTX TWsẽ lên gặp bà con và một số HTX để trao đổi tìm ra cơ chế giúp đỡ về phía liên minh HTX TW. Cần tổ chức một số cuộc hội thảo trước khi hoàn thiện đề án tổng thể mới báo cáo Hà Nội.

Tháng 9 năm 2008


 

Ý KIẾN CỦA ÔNG NGÔ THẾ DÂN - PHÓ CHỦ TỊCH HỘI LÀM VƯỜN VIỆT NAM - NGUYÊN THỨ TRƯỞNG BỘ NN & PTNT

Chủ đề của chương trình nếu thành công sẽ chứng minh hùng hồn về chủ trương mở rộng Hà Nội. Do vậy từ ý tưởng khoa học cần đề xuất một chương trình kế hoạch có lộ trình thực hiện cụ thể. Trong chương trình đó cần phác họa bước đi hiệu quả về các mặt: sản xuất ra sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trường thủ đô, phát triển du lịch nông nghiệp, nông trại nhằm cải thiện nhanh đời sống của dân cư nông nghiệp vì vấn đề lao động nông nghiệp đang dư thừa rất lớn. Cần phải có hình thức hoạt động phong phú để thu hút họ vào các trang trại nông nghiệp công nghệ cao. Về vấn đề quy hoạch cần xác định giao cho cơ quan nào vì đây là một vấn đề lớn và quan trọng. Tiếp tới cần phải lượng hóa về hiệu quả như du lịch tạo công ăn việc làm cho bao nhiêu lao động, tăng thu nhập bao nhiêu phần trăm, sản phẩm sạch thiên nhiên chiếm bao nhiêu trong tổng lượng hàng hóa nông nghiệp làm thực phẩm cung cấp cho thị trường thủ đô. Cần tính toán sơ bộ tổng đầu tư cho chương trình thực hiện quy hoạch ví dụ đường xá, viễn thông, điện nước, các khu dân cư nông nghiệp, các khu du lịch nông trại, đầu tư về ứng dụng khoa học công nghệ cho các sản phẩm.

Tháng 09 năm 2008


 

Ý KIẾN CỦA GS. TSKH ĐẶNG HUY HUỲNH - CHỦ TỊCH HỘI ĐỘNG VẬT VIỆT NAM

Chương trình rất lớn và quan trọng có ý nghĩa thực tiễn và lý luận, vai trò quan trọng của lực lượng khoa học để xây dựng hệ thống căn cứ khoa học cho quy hoạch một thủ đô văn minh khi mở rộng đặc biệt là vấn đề thân thiện với môi trường tự nhiên trong đó vấn đề bức xúc là thực phẩm sạch, thuần khiết thiên nhiên. Cần nhấn mạnh thêm tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong tương lai rất lớn do vậy ý nghĩa về vấn đề bảo vệ vườn quốc gia Ba Vì cho thủ đô giữ chức năng điều hòa sinh thái lớn đối với dân cư đô thị. Cần phải bắt tay vào hành động thực hiện xây dựng gấp cho chương trình này trước mắt cho dân cư thủ đô.

Tháng 9 năm 2008


 

Ý KIẾN CỦA GS. TS TRẦN XUÂN CẢNH - VIỆN TRƯỞNG VIỆN SINH THÁI TÀI NGUYÊN SINH VẬT - VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Để thuyết phục các nhà lãnh đạo ra được chủ trương quy hoạch vùng cung cấp thực phẩm gốc thiên nhiên cần phải nhấn mạnh được tính đặc thù của vùng, tại sao phải ưu tiên chọn vùng này mà không phải vùng khác. Cần phải xây dựng đề cương nghiêm chỉnh tiếp nối và thể hiện cụ thể hơn với ý tưởng. Cần phải tham gia ngay vào quá trình quy hoạch thủ đô.

Tháng 9 năm 2008


 

Ý KIẾN CỦA GS. TS TRƯƠNG NAM HẢI - VIỆN TRƯỞNG VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC - VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Cần có đầu mối để thực hiện các vấn đề như xây dựng đề án, xin chủ trương từ các cấp lãnh đạo thành phố và trung ương cho chương trình quan trọng này. Viện CN Sinh học với các lực lượng nghiên cứu của mình sẽ tham dự rất tích cực trong các vấn đề cần ứng dụng công nghệ sinh học đối với việc bảo tồn, tái tạo gen tự nhiên, xử lý thổ nhưỡng, môi trường (phân bón, giống, nguồn nước...).

Tháng 09 năm 2008


 

Bài nghiên cứu:
PHÂN TÍCH SƠ BỘ NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ CẢNH QUAN PHỤC VỤ QUY HOẠCH VÀNH ĐAI CUNG CẤP SẢN PHẨM TỰ NHIÊN VÙNG ĐỆM XUNG QUANH NÚI BA VÌ
Phạm Thế Vĩnh –Trưởng phòng địa lý sinh vật
Viện Địa lý  thuộc Viện KHCNVN
1. Đặt vấn đề
Khoa học địa lý cảnh quan nghiên cứu mối quan hệ của các hợp phần: địa chất - địa mạo, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng - sinh vật và sự tác động của con người trong quá trình khai thác tài nguyên, nhằm phát hiện ra các đơn vị cảnh quan địa lý (các đơn vị lãnh thổ có ranh giới và tồn tại khách quan, có thứ bậc trong lớp vỏ địa lý). Các đơn vị cảnh quan địa lý có thể được xem như là các đơn vị tổng hợp nhất là cơ sở cho việc quy hoạch thiết kế và sử dụng hợp lý lãnh thổ nói chung và quy hoạch vành đai cung cấp thực vật tự nhiên vùng đệm xung quanh núi Ba Vì nói riêng.

Núi Ba Vì nằm ở Tây Bắc trung tâm Thủ đô Hà Nội, có độ cao tuyệt đối 1235m, chân núi phía Tây tiếp giáp trực tiếp với dòng sông Đà có hưởng chảy từ Nam lên Bắc (nghịch hướng với hướng kiến tạo chung của Việt Nam). Khi đến khu vực Thài Hòa dòng sông Đà uốn khúc và hợp lưu với sông Hồng, đến Bạch Hạc hợp lưu với hệ thống sông Lô - Chảy, sông Phó Đáy rồi đổ xuống hạ lưu theo hướng kiến tạo chung là Tây bắc - Đông Nam tạo nên phù sa màu mỡ.

Sách phong thủy cổ có ghi, núi Ba Vì là tổ sơn của cả đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên khi phân tích điều kiện kiến tạo và tân kiến tạo chúng tôi cho rằng núi Ba Vì là tổ sơn của dải địa linh thuộc hữu hạn sông Hồng với mạch chính là núi Ba Vì, tới chùa Tây Phương, qua chùa Thầy tới chùa Trăm Gian, trung tâm Thủ đô Hà Nội (Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây), qua Phủ Giầy rồi tới phủ Thiên Trường. Trong dân gian lưu truyền Thánh Sơn Tinh và chúa Liễu Hạnh là hai trong tứ Thánh bất tử (tứ bất tử), hộ trì cho vùng đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Trong những năm gần đây, một số các nhà khoa học trên thế giới đã chú ý nghiên cứu dạng năng lượng đặc biệt của vũ trụ và trái đất phục vụ sức khỏe con người và các dạng sống khác trên bề mặt trái đất. Dạng năng lượng “đặc biệt” này chưa đo được bằng thiết bị đo lường thông thường, tuy nhiên vẫn có một số cá nhân có khả năng đặc biệt có thể nhìn, cảm nhận và dò tìm được chúng (theo tiến sĩ Ngô Kiều Oanh). Trong thực tế, dạng năng lượng này có thể được phát hiện trên cơ sở phân tích hình thái năng lượng địa hình, hệ thống đứt gãy kiến tạo, đặc điểm cấu trúc thổ nhưỡng, trạng thái lớp phủ thực vật, đặc điểm cấu trúc mạng lưới thủy văn, hệ thống sông hồ… Nhìn chung, những nơi nào xuất hiện dạng năng lượng “đặc biệt” đó thường là những nơi có môi trường sinh thái thuận lợi cho phát triển, phân bố dân cư, phát triển kinh tế, môi trường văn hóa tâm linh, tạo thế “đất lành chim đậu” trong đó không chỉ cho con người mà cả cho sự phân bố các sản vật tự nhiên có nguồn gốc bản địa và các sản vật tự nhiên khác (nguồn gốc nhập lai).

Có thể bước đầu khẳng định vùng đệm xung quanh núi Ba Vì là vùng “đất lành chim đậu”, có nhiều tiềm năng để phát triển vành đai cung cấp sản phẩm gốc tự nhiên (sản vật) phục vụ cho cư dân thủ đô Hà Nội. Với các sản vật phong phú đã có: sữa (bò, dê), chè (chè xanh, chè đắng), mật ong, thảo dược, cây ăn quả (mít, bưởi, cam, chanh, vải, hồng Yên Thôn, …), mía cỏ, các loại rau sạch, rau rừng, hoa củ đặc sản (khoai môn, dong riềng, …), các sản phẩm chăn nuôi: gà đồi, dê, bò… Nếu có chủ trương, chính sách hợp lý, đầu tư cơ sở vật chất và khoa học công nghệ phù hợp có thể phát triển kinh tế hàng hòa của các sản vật này, phát triển mô hình du lịch nông nghiệp kết hợp với mô hình du lịch sinh thái cuối tuần sẵn có: du lịch Thiên Sơn, Thác Ngà, Ao Vua, Đầm Long, nước khoáng Thuần Mỹ góp phần nâng cao đời sống của dân bản địa, thực hiện chính sách tam nông Đảng và Nhà nước đã đề ra một cách hiệu quả của.

2. Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu và đặc điểm địa lý cảnh quan

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu có thể xác định ba tiểu vùng có điều kiện tự nhiên khác biệt:

Tiểu vùng 1: từ cốt độ cao 300m trở lên đỉnh là tiểu vùng có khí hậu mát mẻ vào mùa hè, hơi lạnh vào mùa đông. Thảm thực vật tự nhiên còn được bảo tồn. Tiểu vùng sinh thủy cho vùng đệm, là nơi tiếp nguồn năng lượng vũ trụ “đặc biệt” nuôi dưỡng sinh khí cho toàn bộ dải địa linh hữu ngạn sông Hồng. Tiểu vùng 1 có diện tích 170ha.

- Tiểu vùng 2: Từ độ cao 300m trở xuống tới đứt gãy sông Đà, đứt gãy này là nơi liên kết một loạt các hệ thống hồ nhỏ chân núi. Đâylà vùng lan truyền trực tiếp của nguồn năng lượng vũ trụ đặc biệt, trong vành đai này có tiềm năng sản vật tư nhiên như thảo dược, chè, đồng cỏ chăn nuôi bò sữa, dê. Tiểu vùng 2 có diện tích 1590ha.

- Tiểu vùng 3: được xác định từ dài đứt gãy sông Đà đến đứt gãy sông Hồng. Đứt gãy sông Hồng là sự liên kết phần rìa phía Tây của hệ thống đồi, đồng bằng đồi chạy theo hướng Tây bắc - Đông nam. Trong phạm vi giữa đứt gãy sông Đà và sông Hồng là nơi tụ thủy của nhiều hệ thống hồ: Đầm Long, suối Hai, Xuân Khánh, Đồng Mô, có tiềm năng phát triển đồng cỏ chăn nuôi, trang trại cây ăn quả kết hợp với chăn nuôi tiểu gia súc, các trang trại rau sạch… Đây là vùng có nguồn nước mặt và nước ngầm tương đối phong phú, chưa bị ô nhiễm, do có tầng đá ong là dạng mặt chắn địa hóa với chức năng lọc các chất ô nhiếm trong nước. Tiểu vùng 3 có diện tích 1280ha.

Ngoài ra, khi nghiên cứu chi tiết, trong mỗi tiểu vùng có thể chia tiếp các đơn vị nhỏ hơn theo hướng sườn và các hệ thống Trung Hà - Thạch Xá, Tây Đằng - Đa Chông, Sơn Tây - Suối Bơn, Đồi Con Ma - Xóm Chóng.

2.2 Khái quát đặc điểm địa lý cảnh quan vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì

2.2.1 Đặc điểm địa chất - địa mạo và hệ thống đứt gãy

a. Cấu tạo địa chất

Các thành tạo địa chất trong khu vực có tuổi từ Protezozoi đến Kainozoi với thành phần là đá biến chất, trầm tích, trầm tích phun trào và các trầm tích bở rời.

1. Đá biến chất phức hệ Sông Hồng ( PR sh): phân bố thành dải từ Đá Chông đến Ngòi Lạt với thành phần chủ yếu là diệp thạch kết tinh gơnai, diệp thạch sericit lẫn lớp mỏng quarzit.

2. Đá trầm tích phun trào hệ tầng Viên Nam ( P2-T1 vn): phân bố rộng rãi hầu như toàn bộ khu vực nghiên cứu; chúng phân bố xung quanh khu vực Ba Vì đến núi Viên Nam, xuống Đồng Mô -Ngải Sơn. Thành phần đá xen kẹp giữa trầm tích cát bột kết với đá phun trào riolit, riolit pocfia và tuf của chúng.

3. Đá trầm tích hệ tầng Tân Lạc ( T1 tl): lộ ra thành những mảnh nhỏ xung quanh khu vực nghiên cứu, Mỹ Khê với thành phần gồm cát bột kết lẫn sét kết và các lớp cuội mỏng.

4. Thành tạo Neogen hệ tầng Vĩnh Bảo (N2­ vb): lộ ra thành dải hẹp kéo dài theo phương TB-ĐN từ Tòng Bạt -Cẩm Lĩnh xuống hồ Suối Hai - Xuân Khanh với thành phần gồm cuội kết, sạn sỏi kết màu xám, xám xi măng có chứa vật chất hữu cơ.

5. Các thành tạo trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ ( Q): có các nguồn gốc sông lũ ( ap), sông (a) và thành tạo sườn ( eluvi, dêluvi) phân bố rải rác trong khu vực, chủ yếu ở phần chân núi và vùng thấp xung quanh.

b. Các kiểu địa hình

Khu vực nghiên cứu có 3 dạng địa hình chính:

1. Địa hình núi: có độ cao tương đối lớn hơn 150m và độ cao tuyệt đối từ 300m trở lên.

2. Địa hình đồi: có độ cao tươntg đối từ 15m-150m và độ cao tuyệt đối từ 30-100m ( đồi thấp) và 150-250m ( đồi cao).

3. Địa hình đồng bằng: có độ cao tương đối nhỏ hơn 15m và độ cao tuyệt đối nhỏ hơn 30m.

c. Các dạng địa hình chính:

Khu vực vườn quốc gia Ba Vì và các xã vùng đệm bước đầu nghiên cứu đã phân chia được 18 dạng địa hình sau:

A.Địa hình nguồn gốc dòng chảy:

1. Đáy thung lũng và bãi bồi thấp ven lòng

2. Bãi bồi cao

3.  Các gờ cát ven sông

4. Thềm bậc I

5. Thềm bậc II

6. Thềm bậc III

7. Bề mặt tích tụ aluvi - proluvi

B. Địa hình được thành tạo do dòng chảy tạm thời

8. Máng trũng xâm thực

9. Máng trũng tích tụ

10. Bề mặt tích tụ chân núi proluvi-deluvi

C. Địa hình thành tạo do hoạt động bóc mòn

11. Phần sót của bề mặt san bằng hoàn toàn ( Peneplen)

12. Phần sót của các bề mặt san bằng bóc mòn-xâm thực chưa hoàn toàn ( Pediment).

13. Phần sót của các bề mặt san bằng xâm thưc-bóc mòn( Pediment thung lũng).

14. Bề mặt sườn trọng lực nhanh

15. Bề mặt sườn trọng lực chậm

16. Sườn xâm thực- xói rửa

17. Bề mặt sườn tích tụ deluvi

D. Địa hình do nhân tác

19. Hồ chứa nước.

d. Các đứt gãy sâu phân đới

1. Đứt gãy sông Hồng ( cấp I): kéo dài theo phương TB-ĐN từ Tòng Bạt qua Xuân Khanh, xuống Chương Mỹ, hướng dốc  về phía ĐB với góc dốc mặt trượt 750 và độ sau phá huỷ đạt tới 35km. Đứt gãy hình thành vào Protezozoi muộn-Paleozoi sớm tái hoạt động trong PZ, MZ và KZ. Trong Kainozoi hoạt động của đứt gãy và các nhánh của nó tạo trũng địa hào Trung Hà-Xuân Khanh được lấp đầy bởi trầm tích Neogen.

2. Đứt gãy Sông Đà ( đứt gãy cấp I): là đứt gãy sâu phân đới, nằm gần trùng với sông Đà. Đứt gãy có dạng vòng cung. Ở Bất Bạt, đông Thạch Xá và đặc biệt ở Đá Chông các đá phun trào bị biến đổi mạnh, có nhiều mạch thạch anh phát triển dọc theo đới đứt gãy.

e. Các đứt gãy phá huỷ nội đới cấu trúc

1. Hệ thống đứt gãy phương ĐB-TN có đứt gãy Tây Đằng - Đá Chông, đứt gãy tây Trung Hà -Thạch Xá, đứt gãy Đồi Con Ma - Xóm Chóng: hoạt động của các đứt gãy này cắt chéo phương cấu trúc cổ, gây các chuyển động dịch ngang và kết quả tạo thành các khối tảng, sụt khác nhau làm mất dạng tuyến của cấu trúc ban đầu. Chúng tạo điều kiện cho các hoạt động macma xâm nhập, các hoạt động nhiệt dịch tạo khoáng.

2. Đứt gãy á vĩ tuyến: có đứt gãy TX Sơn Tây -Suối Bơn. Hoạt động của đứt gẫy  tham gia vào sự phá vỡ cấu trúc cổ hơn và làm phức tạp hoá cấu trúc vùng trung tâm núi Ba Vì.

2.2.2 Đặc điểm thổ nhưỡng

Trong vùng nghiên cứu có các loại đất chính, chủ yếu sau:

- Đất feralit mùn trên đá Riolit

- Đất feralit mùn trên đát trầm tích

- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét

- Đất đỏ vàng trên phù sa cổ

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa

- Đất phù sa sông Hồng

2.1.3 Đặc điểm khí hậu

Khu vực nghiên cứu thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, đầu mùa đông lạnh khô, cuối mùa đông lạnh ẩm do có mưa phùn. Nền nhiệt khá cao thuộc chế độ nhiệt nóng và phân hóa ra hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Mùa đông tương đối dài và lạnh, còn mùa hè nóng với nhiệt độ trung bình thường lớn hơn hoặc bằng 27°C. Ở đây có chế độ mưa mùa hè với lượng mưa vừa và phân hóa ra hai mùa mưa và ít mưa. Mùa ít mưa không khắc nghiệt do có độ ẩm cao và mưa phùn vào nửa cuối mùa. Nằm trong vùng trung du miền núi nên ở đây có khá nhiều dông. Ngoài ra ở khu vực này cũng xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió khô nóng, bão, mưa phùn, sương mù nhưng với tần suất không lớn.

- Chế độ bức xạ, mây, nắng : Chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc nên ở khu vực nghiên cứu chế độ bức xạ nhìn chung không dồi dào, tương đối ít nắng và khá nhiều mây.

Lượng bức xạ tổng cộng năm đạt khoảng 120-122 kcal/cm2.năm. Lượng bức xạ lớn nhất quan sát vào 3 tháng V-VII, đạt 14-15 kcal/cm2.tháng. Lượng bức xạ thấp nhất chỉ đạt 5-6 kcal/cm2.tháng và quan sát được trong ba tháng I-III.

Trung bình mỗi năm có khoảng 1490-1550 giờ nắng. Thời kỳ từ tháng V - XII có khá nhiều nắng, đạt trên 100 giờ/tháng. Hai tháng VII-IX có nhiều nắng nhất đạt 170-190 giờ/tháng. Hai tháng II-III có ít nắng nhất, khoảng 45-55 giờ/tháng (bảng 1).

Ngược lại với nắng, khu vực nghiên cứu có khá nhiều mây. Lượng mây tổng quan trung bình năm đạt 7,6/10 BT. Thời kỳ đầu mùa đông (IX-XII) có ít mây nhất, khoảng 6,1-6,6/10 BT. Hai tháng II-III có nhiều mây nhất, đạt trên 9/10 BT.

- Chế độ gió : Nằm khá sâu trong vùng Đông Bắc Bộ nên ở khu vực nghiên cứu chế độ gió phần nào phụ thuộc vào điều kiện địa hình của khu vực. Vào nửa đầu mùa đông (IX-XII), hướng gió thịnh hành có tần suất lớn nhất là Tây Bắc (13-18%), sau đó là các hướng Đông Nam và Đông với tần suất mỗi hướng dao động trong khoảng 11-17%. Trong suốt thời kỳ (I-VII), hướng gió chủ đạo là hướng Đông và Đông với tần suất mỗi hướng dao động trong khoảng 20-40%. Tần suất lặng gió ít thay đổi trong năm, dao động trong khoảng 24-47%.

Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 1,5-1,8 m/s (bảng 3). Tốc độ gió trung bình lớn nhất quan sát vào thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hè (II-V) đạt 1,8-2,2 m/s và thấp nhất vào nửa đầu mùa đông IX-XII (1,1-1,3 m/s). Tốc độ gió trung bình của các hướng gió thịnh hành tương đối lớn, đạt  1,9-2,7 m/s.

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm đạt 22,5-23,3°C (bảng  ), tương đương với tổng nhiệt năm khoảng 8210-8500°C. Chế độ nhiệt phân hóa ra hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Mùa nóng dài 5 tháng (V-IX) với nhiệt độ trung bình thường đạt và lớn hơn 27°C. Mùa lạnh kéo dài 3-4 tháng (XII-II hoặc III), trong đó ba tháng XII-II có nhiệt độ trung bình < 18°C. Tháng I có nhiệt độ trung bình thấp nhất, đạt trên dưới 16°C.

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc nên dao động của nhiệt độ trong năm lớn với biên độ đạt tới 12,6°C. Nằm trong khu vực trung du miền núi nên dao động nhiệt độ trong ngày thuộc loại trung bình.

Nhiệt độ tối cao trung bình năm đạt trên dưới 27°C. Vào mùa hè (V-IX) nhiệt độ tối cao trung bình đều lớn hơn 30°C. Nhiệt độ tối thấp trung bình năm dao động trong khoảng 20-21°C. Trong mùa đông (XI-III) nhiệt độ tối thấp trung bình đều nhỏ hơn 20°C và thấp hơn 15°C vào 2 tháng (XII-I).

Bảng 1: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (oC)

TT Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
1 Ba Vì 16.1 17.4 20.1 23.9 27.0 28.6 28.7 28.2 27.0 24.4 20.9 17.5 23.3
2 Sơn Tây 16.1 17.2 20.1 23.7 27.1 28.5 28.7 28.1 27.0 24.5 21.0 17.9 23.3

- Chế độ mưa ẩm:

+ Lượng mưa: Nằm ở phía bắc của núi Ba Vì, nhìn chung ít thuận lợi để đón gió mùa Đông Nam gây mưa lớn nên khu vực nghiên cứu có mưa vừa. Tổng lượng mưa năm dao động trong khoảng 1520-1850mm và tăng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam (bảng 2).

Bảng 2: Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm)

TT Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
1 Quảng Oai 20.2 20.0 39.5 91.4 201.4 261.8 265.7 261.4 195.7 154.6 51.5 16.7 1579.8
2 Bất Bạt 18.7 20.0 35.9 94.1 186.4 216.6 249.3 255.8 220.7 156.4 54.5 10.7 1519.1
3 Suối Hai 14.8 18.5 38.3 99.2 199.2 263.9 287.0 299.7 233.5 185.9 51.7 16.5 1708.2
4 Cổ Đằng 21.2 23.4 28.8 92.2 189.3 279.9 288.3 346.3 289.0 211.1 52.4 24.3 1846.3
5 Ba Vì 25.8 29.0 50.4 105.3 277.4 297.6 348.5 310.4 227.9 193.3 60.0 20.2 1945.7

Mùa mưa chính là mùa hè, dài 6 tháng (V-X) với lượng mưa chiếm tới 85-87% tổng lượng mưa năm. Lượng mưa phân bố tương đối đều trong mùa mưa, bốn tháng giữa mùa mưa có lượng mưa khá lớn đạt khoảng 200-350mm/tháng. Trong mùa ít mưa có 4 tháng khô (XII-III) với lượng mưa < 2T (T - nhiệt độ trung bình tháng) và chỉ có 1 tháng hạn (XII hoặc I) với lượng mưa < T, đây cũng là tháng có lượng mưa thấp nhất chỉ đạt khoảng 10-20mm/tháng.

Độ ẩm tương đối: Độ ẩm tương đối trung bình năm ở khu vực nghiên cứu khá cao, đạt 84%. Quanh năm có độ ẩm tương đối trung bình lớn hơn 80%. Ba tháng II-IV có độ ẩm tương đối trung bình lớn nhất, đạt 86-87%. Ba tháng (X-XII) có độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất: 81-82%.

Lượng bốc thoát hơi tiềm năng PET: Lượng bốc hơi PET hàng năm đạt trên dưới 1000mm/năm. Vào mùa hè (V-IX) lượng bốc hơi PET lớn hơn 100mm/tháng, lớn nhất vào ba tháng (VI-VIII) đạt 115-125mm/tháng. Ba tháng giữa mùa đông (XII-II) lượng bốc hơi PET thấp nhất, chỉ đạt 40-50mm/tháng.

Chỉ số khô hạn: Chỉ số khô hạn trung bình năm ở khu vực nghiên cứu tương đối thấp, dao động trong khoảng 0,55-0,65 (bảng 15). Như vậy, xét chỉ số khô hạn trung bình năm thì khu vực nghiên cứu luôn đủ ẩm. Lượng mưa thu được cả năm thường lớn hơn 1,5-2,0 lần lượng nước cần phải chi thông qua bốc thoát hơi.

Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Khu vực nghiên cứu có nhiều ngày dông, các hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió khô nóng, bão, dông, mưa đá, sương muối, sương mù, mưa phùn có xuất hiện nhưng với tần suất không lớn.

2.1.4 Đặc điểm thủy văn

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng địa hình đồi chân núi Tản Viên có mạng lưới sông suối dày và các ao hồ thuận lợi trữ nước mặt. Các sông suối trong vùng đều có hướng chảy Nam - Bắc hoặc Tây nam - Đông bắc như thượng lưu sông Tích và một số phụ lưu của sông.

Tài nguyên nước

Lượng dòng chảy trên các sông suối: Dòng chảy tại khu vực nghiên cứu đạt trung bình là 35,9 l/s.km2 tương ứng với lớp dòng chảy trung bình 1130 mm. So với trung bình toàn vùng châu thổ sông Hồng, đây là khu vực có lượng dòng chảy cao.

Dòng chảy ngầm: Khu vực nghiên cứu có địa hình đồi, lớp thổ nhưỡng khá dày, độ thấm lớn, khả năng trữ nước tốt. Lượng dòng chảy ngầm ở đây chiếm trên 26,4% lượng dòng chảy toàn phần, trung bình lượng dòng chảy ngầm của khu vực đạt 300 mm.

Lượng bốc thoát hơi thực tế bề mặt: Xét lượng bốc hơi thực tế của khu vực nghiên cứu cho thấy lượng bốc hơi thực tế của khu vực này trung bình đạt 1043 mm, như vậy khả năng bốc thoát hơi ở đây không lớn. Nếu chỉ nhìn vào lượng bốc hơi thực tế của một vùng không thể hiện được trạng thái khô hay ẩm của vùng và để biểu hiện trạng thái ẩm ướt hay khô hạn của các lưu vực trong vùng nghiên cứu cần phải dựa vào mức độ chênh lệch giữa bốc hơi thực tế và bốc thoát hơi khả năng. Sự chênh lệch giữa bốc hơi thực tế lưu vực và tiềm năng bốc thoát hơi càng lớn thể hiện sự thiếu hụt ẩm càng lớn của khu vực. Tại đây mức độ chênh lệch thấp từ (200 - 300) mm, vì vậy có thể thấy rằng đây là khu vực có nguồn ẩm phong phú.

Tóm lại, ở khu vực nghiên cứu có tài nguyên nước mặt đủ đến thừa ẩm, thuận lợi cho các loại thảm thực vật thường xanh phát triển.

Chế độ dòng chảy

Sự biến đổi dòng chảy qua các năm: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa sâu trong đất liền, ít chịu tác động trực tiếp của các nhiễu động thời tiết (như bão, ATNĐ...) nên biến động lượng mưa qua các năm ở khu vực nghiên cứu không lớn. Vì vậy lượng dòng chảy trên sông biến động qua các năm không lớn với hệ số biến động dòng chảy (Cv) đạt 0,3.

Chế độ phân mùa dòng chảy: Qua tài liệu của trạm quan trắc thuỷ văn, chúng tôi xác định được mùa dòng chảy trên các sông ngòi khu vực nghiên cứu, mùa lũ kéo dài từ tháng VI đến tháng X và mùa kiệt từ tháng (XI - V):

Mùa lũ:  Mùa lũ trên sông suối ở khu vực nghiên cứu xuất hiện từ tháng VI - X có lượng dòng chảy trên sông chiếm tới 70,7% lượng dòng chảy cả năm và moduyn dòng chảy trung bình mùa lũ là 53,2 l/s.km2. Hàng năm, các sông suối trong địa bàn xã thường xuất hiện 3 - 4 trận lũ. Do nằm sâu trong nội địa nên lũ trên sông Tích thuộc khu vực nghiên cứu thường không lớn.

Mùa kiệt : Nằm ở vùng núi và đồi nên lượng dòng chảy mùa kiệt ở khu vực này thấp, trung bình lượng dòng chảy mùa kiệt là 15,8 l/s.km2. So với các sông suối trong vùng châu thổ sông Hồng, đây là vùng có lượng dòng chảy khá phong phú do nguồn ẩm mang tới khu vực trong thời kỳ mùa kiệt bao gồm cả gió mùa Đông Bắc biến tính. Ba tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất thường xuất hiện vào tháng (I - III) chiếm 6,82% lượng dòng chảy năm, moduyn dòng chảy trung bình ba tháng nhỏ nhất đạt 8,57 l/s.km2.

3. Những nội dung cần nghiên cứu trong giai đoạn tới

Đặc điểm địa chất - địa mạo và đánh giá vai trò hệ thống đứt gãy trong phân hóa tự nhiên khu vực nghiên cứu.

Đặc điểm thổ nhưỡng:

Xác định các loại đất phát sinh.

Các đặc điểm địa mạo - thổ nhưỡng.

Phân hạng đất theo hình thái và chất lượng cho các đối tượng cần quy hoạch.

Đặc điểm chế độ thủy văn, nước mặt và nước ngầm:

Biến động và chất lượng tài nguyên nước mặt.

Biến động và chất lượng tài nguyên nước ngầm.

Đánh giá khả năng cung cấp nước cho các đối tượng cần quy hoạch trong tương lai.

Xây dựng bản đồ cảnh quan định hướng quy hoạch vành đai cung cấp sản phẩm tự nhiên vùng đệm xung quanh núi Ba Vì.

Xây dựng bản đồ định hướng quy hoạch và các tuyến du lịch nông nghiệp trong tương lai.

4. Kết luận

Ranh giới vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì cần được xác định trên quan điểm của địa lý cảnh quan.

Vùng đệm chân núi Ba Vì được xác định thành 3 tiểu vùng chính theo hướng đứt gãy Tây bắc - Đông nam, trong đó được chia nhỏ theo sự phân chia hướng sườn và hệ thống đứt gãy theo hướng Đông bắc - Tây Nam.

Vùng đệm núi Ba Vì có tiềm năng để phát triển vành đai cung cấp sản phẩm tự nhiên sạch cho dân cư Hà Nội. Ngoài vai trò là vùng phát triển sản phẩm tự nhiên sạch, vùng này còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái và môi trường địa linh của dải hữu ngạn sông Hồng.

Như vậy, nghiên cứu địa lý cảnh quan với các nội dung như trên, áp dụng trong phạm vi vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong công tác quy hoạch, định hướng vùng sản xuất thực phẩm sạch cung cấp cho khu vực thủ đô Hà Nội, góp phần phát triển kinh tế xã hội của dân cư địa phương và góp phần phát triển văn minh đô thị.

Tháng 09 năm 2008


 

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG VŨ TRỤ VÀ TRÁI ĐẤT PHỤC VỤ SỨC KHOẺ CON NGƯỜI

1. Những quan điểm vật lý.

Đầu thế kỷ 19, nhiều hiện tượng mới trong tự nhiên được phát hiện mà không thể mô tả bằng vật lý học Newton. Năm 1905, Albert Einstein công bố lý thuyết tương đối đặc biệt của mình và làm đảo lộn toàn bộ các khái niệm chính của quan điểm Newton về thế giới. Theo lý thuyết tương đối, không gian không phải ba chiều và thời gian không phải là một tồn tại riêng rẽ. Cả hai liên kết chặt chẽ với nhau và tạo nên một Continuum bốn chiều. Có nghĩa không thể nói đến không gian mà không có thời gian và ngược lại. Theo ông, năng lượng và vật chất đều được diễn tả bằng công thức: E = MC2. Trong những năm 1920, vật lý học bước vào môt thực tại kỳ lạ và bất ngờ của thế giới hạt sơ cấp vì vật lý hạt cơ bản luôn luôn hấp dẫn các nhà nghiên cứu. Đã hình thành một khoa học mới có tên là Quantium Chronodyamic để nghiên cứu tương tác mạnh và cho đến nay bản chất màu sắc trạng thái của các Quark (Lượng tử) vẫn chưa phát hiện hết. Max Planck phát hiện ra rằng năng lượng của bức xạ nhiệt không  toả ra liên tục mà hiện ra trong trạng thái những gói nhỏ năng lượng rời rạc gọi là lượng tử. Einstein đã đưa ra định đề rằng mọi hình thái  bức xạ điện từ có thể hiện ra không những dưới dạng sóng mà còn dưới dạng lượng tử. Toàn bộ các hạt có thể biến hoá thành các dạng hạt khác. Chúng có thể được tạo từ năng lượng và có thể tan ra thành năng lượng. Quá trình này chắn chắn liên tục xảy ra trong tự nhiên ở các cơ thể sống. Các nhà vật lý thấy rằng hạt có thể cùng lúc là sóng. Đây không phải là sóng thể chất như sóng âm hay sóng nước mà là đại diện cho xác suất của các mối liên kết. Toàn bộ vũ trụ theo khái niệm hệ thống lại chính là các dạng liên kết tổng thể dưới các dạng sóng năng lượng không thể tách rời và có sự tương tác lẫn nhau rất năng động được gọi là trường năng lượng vũ trụ. Hiện tượng hào quang bao quanh các mô sống chính là sự thể hiện mạng lưới liên kết các dạng sóng năng lượng này, quan điểm về một năng luợng vũ trụ lan toả khắp tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học phương tây nghiên cứu từ cổ xưa (Năng luợng vũ trụ này cảm nhận dưới dạng một vật thể sáng đã được các môn đệ của Pythagore ghi chép trong tài liệu cổ của phương Tây vào khoảng 500 năm trước công nguyên). Nhà bác học Đức Von Reichenbach bỏ ra 30 năm giữa của những năm 1800 để thí nghiệm trường năng lượng vũ trụ mà ông gọi là lực “odic”. Khác với trường điện từ Maxwell các vật như các tinh thể hoặc các cơ thể sống chẳng hạn mặc dù không có từ tính nhưng vẫn hút nhau theo nguyên tắc cùng dấu hút nhau, và trường “odic” có thể dẫn truyền qua dây kim loại với tốc độ dẫn truyền rất chậm (xấp xỉ 4m/s hoặc 13 fut/s)và tốc độ này dườngnhư tuỳ thuộc vào tỷ trọng khối lượng hơn là dẫn suất của vật liệu. Các thí nghiệm khác chứng minh rằng có thể quy tụ phần này của trường như quy tụ ánh sáng bằng thấu kính, trong khi phần kia vẫn toé ra xung quanh thấu kính, tựa như ngọn lửa nến toé ra xung quanh các vật đặt trên đường đi của nó. Phần lệch của trường odic cũng vẫn tác động như ngọn lửa nến khi nó được đặt vào giữa luồng không khí, điều này gợi lên giả thuyết cho rằng cấu tạo của nó giống như chất khí. Các thí nghiệm nói trên cho thấy trường hào quang “odic” có những đặc tính vừa có tính hạt như chất lỏng vừa có năng luợng như sóng ánh sáng. Ông thấy rằng lực trong cơ thể con người tạo ra tính có cực tương tự như lực odic. Dựa trên các bằng chứng thí nghiệm ông mô tả phần bên trái của thân thể như một cực âm và phần bên phải như một cực dương tương tự như nguyên lý âm dương của người Trung hoa cổ xưa. Ông cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa bức xạ điện từ của mặt trời và những tập trung thao tác tập trung trường odic của nhiều người kết hợp với nhau. Ông cho rằng mức tập trung lớn nhất của loại năng lượng này nằm giữa vùng đỏ và vùng tím ngả xanh của quang phổ. Các cảm giác thay đổi từ ấm sang lạnh tương đương với các màu sắc của quang phổ thay đổi từ đỏ sang chàm.

2. Định nghĩa trường

Trường được định nghĩa như là một trạng thái trong không gian có khả năng tạo ra một lực. Cơ học Newton cũ giải thích tương tác giữa các hạt mang điện dương và điện âm như proton và electron là sự hấp dẫn nhau qua khối lượng của chúng. Nhưng Michael Faraday và James Clerk  Mawell lại thấy dùng khái niệm trường thích hợp hơn, và nói rằng mỗi điện tích tạo nên một nhiễu loạn hay một trạng thái trong không gian bao quanh, do đó điện tích kia sẽ chịu một lực tác động khi nó có mặt tại đó. Thế là ra đời khái niệm về một vũ trụ chứa đầy trường tạo ra các lực tương tác còn được gọi là trường năng lượng vũ trụ. Khoa học hiện đại cho rằng thân thể con người không phải chỉ là một cấu trúc thể chất bằng phân tử, mà như bất cứ một vật gì khác, nó cũng gồm những trường năng lượng và có khả năng tương tác. Sự hiểu biết của con người đã được chuyển dịch ra khỏi thế giới quan hình thái chất rắn tĩnh để bước vào một thế giới các trường năng lượng động. Phát minh và nghiên cứu hiện tượng điện từ dẫn đến khái niệm trường. Trường được định nghĩa như là một trạng thái trong không gian có khả năng tạo ra một lực.

Trường năng lượng vũ trụ: Trường năng lượng vũ trụ đã được biết, quan sát từ lâu và các trang thiết bị khoa học ngày càng phát triển cho phép đo đạc được những đặc tính tinh vi hơn của trường năng lượng vũ trụ. Trường năng lượng vũ trụ thấm nhuần toàn bộ khoảng không, động vật, bất động vật và liên kết mọi vật với nhau, trường năng lượng vũ trụ chảy từ vật nọ sang vật kia và mật độ của trường năng lượng vũ trụ biến thiên ngược chiều với khoảng cách từ nguồn của nó. Trường năng lựơng vũ trụ cũng có quy luật hòa âm và cộng hưởng giao cảm. Các quan sát bằng mắt khám phá ra rằng trường vũ trụ có cấu tạo cao về một loạt điểm hình học, các đường xoắn ốc, các điểm sáng cô lập rung động, các mạng vạch, các tia lửa và mây.

Trường điện từ sinh học: là biểu hiện của trường năng luợng vũ trụ có liên quan mật thiết với đời sống con người. Nó được mô tả như một vầng hào quang bao quanh và thâm nhập vào thân thể, phát ra những bức xạ đặc thù của riêng nó. Gần đây nhiều số liệu đo đạc cho thấy trường điện từ sinh học về bản chất là hạt và có kích thước như các hạt lượng tử. Khi tích điện, các hạt nhỏ cùng nhau chuyển động trong những đám mây mà các nhà vật lý thường gọi là plasma. Các plasma tuân theo một số định luật vật lý làm cho các nhà vật lý đi đến chỗ coi chúng như trong trạng thái giữa năng luợng và vật chất. Nhiều đặc tính của trường điện từ sinh học đo được trong phòng thí nghiệm làm nảy sinh trạng thái thứ năm của vật chất mà một số nhà khoa học gọi là bioplasma.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu cách đo những thay đổi tinh tế đó. Họ đang phát triển và chế tạo nhưng dụng cụ để khám phá các trường năng lượng có liên quan đến cơ thể con người và đo tần số của chúng. Họ đo các dòng điện của tim với máy đo điện tim, đo các dòng điện não bằng máy đo điện não. Hiện nay đã đo được các trường điện từ xung quanh thân thể với một thiết bị nhạy gọi là thiết bị lượng tử siêu dẫn (SQUID – Super conducting Quantum Interference Device). Thiết bị này thậm chí không đụng chạm tới thân thể khi đo các từ trường xung quanh người. Bác sĩ Samuel Wiliamson thuộc Trường đại học tổng hợp NewYork tuyên bố rằng thiết bị này cung cấp thông tin về trạng thái của não tốt hơn máy ghi điện não thông thường.

3. Các nhóm nghiên cứu trên thế giới.

Những năm gần đây, nhiều nhóm các nhà khoa học của một số nước khác nhau đã tiến hành nghiên cứu các dạng trường năng lượng điện từ mà con người khó nhìn thấy, trong các cấu trúc hình học, trong không gian, trong lòng Đất và vũ trụ. Họ đã điều tra nghiên cứu sự ảnh hưởng của chúng lên các dạng sống. Với những trường năng lượng khó nhìn thấy, thì có nghĩa là (chưa) thể đo được bằng những thiết bị đo lường kỹ thuật thông thường. Tuy nhiên, một số cá nhân có khả năng đặc biệt cho biết rằng họ có thể nhìn, cảm nhận thấy hoặc dò tìm được những dạng năng lượng này. Trong trường hợp “dò tìm”, thì nó sẽ được gọi là “cảm quan phản ứng” (radiesthetic observation), trường hợp đo lường bằng các dụng cụ khoa học, thì nó được gọi là “đo lường (khoa học)”. Các năng lượng khó nhìn thấy đều được gọi là “Chi (Ki)”, “Prana”, “chakras” và “auric fields” (trường tinh khí) ở người và “Earth energies” (các năng lượng Trái đất xuyên qua và bao bọc hành tinh chúng ta theo mô hình dạng lưới. Những dòng năng lượng Trái đất này có thể là một lưới hình học trên chính nó hoặc chúng có thể gây ra bởi những đứt gãy sâu hay các bồn nước ngầm).

Nhóm 1: Nghiên cứu và sử dụng các thiết bị đo từ trường. 

Tác giả là Tiến sĩ vật lý Saski Bosman (Saski Bosman là một nhà sinh học và là nhà nghiên cứu cộng tác với Tổ chức Ý thức về Môi trường, của Graveland và Tổ chức Fred, Hilversum, Hà Lan, 2000). Ông đã nghiên cứu và sử dụng:

1- Khí cụ đo từ trường với từ kế để đo sự dao động tần suất 0-1000Hz và tối đa, 0-100 MHz. Cuộn kép của nó, thông qua việc bắt các tín hiệu trong khoảng dao động 0-100 Hz ELF, có đường kính 2,54cm và có 80.000 vòng cuốn (biểu thị 30kHenry) và lõi ferit. Điện áp khuyếch đại 1000 lần nhờ các op-amp. Điện trở cuộn là ca. 35.000hm. Hai phương pháp đo lường trường điện trong khoảng dao động từ 0-1000 MHz được thực hiện với anten đài thay thế cho cuộn. Các phổ tần đạt được nhờ thuật toán Chuyển đổi Fourier Nhanh (Fast Fourier Transformation algorithm) và được thí điểm trên màn hình máy tính và trên giấy. 

Ảnh ánh sáng nhìn thấy được được chụp bằng máy ảnh thông thường với chủng loại phim Fuji hoặc Kodak màu100 hoặc 200 ASA 35mm/film. Nếu trời mưa, cần chú ý không để nước mưa rơi vào ống kính máy ảnh.

Ảnh dùng tia cận hồng ngoại có được nhờ sử dụng những nhãn hiệu phim Kodak 35mm tốc độ cao chịu tia hồng ngoại, để phơi sáng ở mức 25 ASA đối với máy ảnh Minolta X-300, tiêu cự F = 35-50mm, màng ngăn f/9.5, thời gian chụp 1/30s. Máy ảnh được trang bị thiết bị lọc Kodak 87c và được bọc trong giấy bạc để ngăn chặn các bức xạ hồng ngoại ngoài ý muốn. Phim thường ghi lại những phát xạ tia cận hồng ngoại với bước sóng. 800nm. 

2- Máy ghi các phát xạ tia beta và gamma ống đếm Geiger-Müller  gồm 3 kiểu của Physique Industrielle (Brussels, Bỉ): Một kiểu được trang bị ống đếm Geiger-Müller G1/230686 riêng (dài khoảng 30cm)  với điện áp 1300V. Hai kiểu ống đếm Geiger-Müller  khác  chỉ dài khoảng 5-10cm. 

3- Máy ảnh Kirlian hoạt động ở mức 25Hz và điện áp 100kV, sử dụng phim Kodak 60x60mm, 100 ASA, độ mở 60giây.

Một số hình ảnh chụp trường năng lượng sinh học (hào quang) của ngón tay con người bằng máy Kirlian (trong vườn Long An - là vườn có năng lượng đất và khí quyển đặc biệt phù hợp với việc cải thiện sức khoẻ con người)

  Tay phải Tay trái
Người thứ  1: Người hoàn toàn khoẻ mạnh
Người thứ 2:

 

 

Chụp lần 1 (ảnh trên): Bệnh nhân suy tim chụp trước khi vào vườn.

Chụp lần 2 (ảnh dưới): Bệnh nhân chụp sau khi vào vườn một thời gian, đã đỡ bệnh.

Người thứ 3

Chụp lần 1 (ảnh trên): Bệnh nhân đau đầu, dạ dày chụp trước khi vào vườn

Chụp lần 2 (ảnh dưới): Bệnh nhân chụp sau khi vào vườn một thời gian, đã đỡ bệnh.

Người thứ 4

Chụp lần 1 (ảnh trên): Bệnh nhân tiểu đường chụp trước khi vào vườn

Chụp lần 2 (ảnh dưới): Bệnh nhân chụp sau khi vào vườn một thời gian, đã đỡ bệnh.

4- “Đồng hồ đo trường điện” đo phát xạ điện từ trong khoảng dao V trên anten.mđộng từ 50Hz-1GHz với ngưỡng dò tìm 20 

Nhóm 2:  Nghiên cứu năng lượng Trái đất 

Nikola Tesla, vào năm 1899, đã nghiên cứu bản chất các hiện tượng điện từ của Trái đất. 

Henry Moray, năm 1909, bằng cách dùng dụng cụ phóng xạ chất bán dẫn, các mạch điều chỉnh, anten và đường dẫn âm, tiến hành đo năng lượng vũ trụ. 

Hans Coler, năm 1933, ở Đức, đã nghiên cứu bản chất của hiện tượng từ tính đã giúp ông kết luận rằng hiện tượng sắt từ dao động với tần suất khoảng 180KHz.

Nhóm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của năng lượng Trái đất đến khả năng chữa bệnh và trạng thái sức khoẻ con người. 

Tác giả là bà Avril Webb làm việc tại Viện Năng lượng Điều hoà Sinh học Australia (Bio-Harmonic Energy Institute of Australia), là cơ quan nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng của năng lượng Trái đất lên khả năng chữa bệnh và trạng thái sức khoẻ con người. 

Avril Webb đã từng là một nhà nghiên cứu địa lý y học đã hơn 25 năm. Avril Webb cùng với Carl Jensen, Albino Gola, Richard Creightmore và Eric Dowsett đã sử dụng các phương pháp Reiki để nghiên cứu sự tương tác giữa con người và môi trường, đặc biệt là cách thức tác động lên sức khoẻ. Bà đã nghiên cứu các vấn đề về Sinh khối (Building Biology), Điện sinh học (Electrobiology), các mối quan hệ giữa con người với môi trường. Bà cũng nghiên cứu về Geopathic Stress còn được gọi là căng thẳng Địa bệnh học.

Nigel Pennick trong cuốn “Khoa học cổ về địa nhân” (The Ancient Science of Geomancy) (1979, Thames và Hudson) đã chỉ rõ cũng như trong cơ thể con người, có nhiều năng lượng tự nhiên đang tồn tại trong đất dưới dạng các mạch năng lượng hay các long mạch mà có thể bị ứ đọng, ô nhiễm và tắc nghẽn theo thời gian, thông qua những đổi thay tự nhiên của Trái đất như là các trận động đất hay sự vận động kiến tạo, hoặc những thay đổi nhân tạo như  nạo vét, làm đường (đường ray, đường hầm), khai thác đá - bất cứ nơi nào địa thế tự nhiên bị tác động nghiêm trọng đều có khả năng bị xáo trộn, thì bất cứ ai đang nghỉ ngơi, dạo chơi hay làm việc tại đó đều phải chịu những năng lượng biến dạng mà nó gây nhiễu loạn chức năng tự nhiên của cơ thể hoặc não bộ. 

Đất cũng có tần suất điện từ hay xung điện từ riêng của nó để có thể nuôi dưỡng và duy trì sự sống, tuy nhiên sự xuất hiện điện tự tạo nhờ các trạm điện, đường lưới, bộ biến thế và năng lượng trong mỗi toà nhà đã làm xuất hiện tần suất điện trái tự nhiên đạt 50-60MHZ cũng như các tín hiệu truyền thông vi sóng cao tần trên khắp hành tinh. 

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng dường như chỉ từ khi tần suất trái tự nhiên này xuất hiện thì những căn bệnh như ung thư, AIDS, hội chứng mệt mãn tính và những căn bệnh khác đang làm gián đoạn, phá vỡ chức năng của hệ miễn dịch đã trở nên phổ biến hơn.

Những năng lượng Trái đất có lợi 

Lưới đồ Hartmann (the Hartmann Grid) là một lưới điều khiển biểu thị năng lượng sóng bao trùm lên Trái đất. Lưới đồ bình thường là 2m theo trục N/S và 2,5m theo trục E/W (biểu thị tình trạng khu vực). Các điểm giao nhau trên lưới đồ đều có vị trí đặc biệt và được nối với những điểm giao nhau khác. Các điểm giao trên lưới này đã được sử dụng như là những điểm phân bố trong các công trình thu hút năng lượng như tháp năng lượng. Những chỗ mạch đất lành, các nhà thờ đầu tiên của Châu Âu được xây dựng trên đó

Nhóm 4: Nghiên cứu năng lượng mạch Ley 

Baron von Pohl và Cody là những nhà khoa học đầu tiên cố gắng nghiên cứu các dạng năng lượng Trái đất tự nhiên bằng việc tìm hiểu cách tổ tiên loài người đã sử dụng các dạng năng lượng có lợi và bất lợi bao bọc xung quanh chúng ta. 

- Ở Thụy Sĩ, Tiến sĩ Joseph A.Kopp đã tuyên bố rằng những tác động của năng lượng Trái đất đã có thể đo lường được một cách khoa học, như các trường điện từ, sự gia tăng suất dẫn điện của đất và không khí. Ông cho rằng, sự gia tăng trong thực tế của cường độ các sóng UHF và cường độ của bức xạ tia hồng ngoại cũng có thể được phát hiện tại các bồn nước ngầm. Trong một thí nghiệm thú vị, ông đã phát hiện rằng chuột được để vào trong các hộp gỗ đặt bên trên những bồn nước ngầm bị tác động của các sóng như trên đã cho thấy những triệu chứng khác nhau: như chuột luôn hoảng loạn, cắn nhau và ăn thịt con non. 

- Gần đây, tiềm năng điện hoá học ngay tại các bồn nước ngầm, chỗ bờ gần mép nước cũng đã được đo lường một cách khoa học. Các máy hiện sóng (oscilloscope) đã được sử dụng để phân loại những phát hiện của các nhà nghiên cứu Pháp, trong khi một số ít các nhà nghiên cứu Mỹ lại sử dụng Máy đếm tia phát sáng (scintillation counter) để dò tìm các bức xạ gamma ngay tại các vùng phân bố bồn nước ngầm. 

Alfred Watkins, một doanh nhân và là nhà nhiếp ảnh ở vùng biên giới Welsh đã phát minh ra dụng cụ đo độ mờ sáng Watkins để nghiên cứu năng lượng Trái đất. Ông cho rằng, cổ nhân đã sử dụng các năng lượng đó cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm cả việc chuyên chở đá lửa và muối. Họ đã sử dụng các năng lượng Trái đất bằng cách giới hạn những độ dốc thẳng bằng việc xây dựng và tận dụng các bồn đá, bệ đá, ụ đá, ao hồ, gò đống, các khe núi, các lối hẻm và nhiều vị trí bí mật khác mà các lâu đài và nhà thờ sau đó được xây dựng lên. Nghiên cứu của ông về năng lượng Ley (mạch của những vị trí thờ cúng cổ xưa có năng lượng bao trùm xung quanh) đã phần nào giải thích những nguồn năng lượng huyền ảo và bí hiểm xung quanh ta (được gọi là khí thiêng). 

Những người đang nghiên cứu các dạng năng lượng ở những vị trí linh thiêng ngày nay được gọi là những nhà nghiên cứu bí ẩn Trái đất (earth mystery researchers). Tom Graves đã mô tả cái điều mà những đấng cổ xưa đã làm như là “sự thăm dò Trái đất” (acupuncture of the earth), và đã hệ thống mạch Ley được tạo ra nhằm cân bằng hệ năng lượng tự nhiên của Trái đất để tác động của chúng lên sức khỏe và tâm trạng của con người được tốt hơn. 

Theo ý tưởng mạch Ley, các bệ đá và bồn đá do con người đặt trực tiếp bên trên những bồn nước ngầm (và có thể các khe hoặc đứt gãy kiến tạo) sẽ thu hút và phát ra những năng lượng Trái đất trên bề mặt của chúng. Bằng cách xếp đặt này, dòng năng lượng đi qua sẽ tạo ra trên mặt đất một loạt các sóng riêng rẽ nằm theo một trật tự tự nhiên. Bề mặt “bên trên mặt đất” này sẽ là năng lượng Ley dạng thẳng phát ra từ bệ đá bình thường hoặc gần như có dạng vòng phát từ bệ đá có hình dạng vòng chén. 

Độ rộng của năng lượng Ley giữa các bệ đá có thể là vài trăm mét ở những chỗ rộng nhất, mặc dù một số người mà có khả năng phản ứng với năng lượng này khi ở sát tâm của nó, họ thấy rằng đó là một dải rất hẹp chỉ rộng vài mét hoặc ít hơn. Việc đo đạc chính xác khả năng ảnh hưởng của dạng năng lượng Ley hiện còn là một vấn đề khoa học cần được nghiên cứu tiếp.

4.  Một số thông tin về các khu vườn tự nhiên chữa bệnh trên Thế giới. 

4.1. Vườn Loudres - Cộng hoà Pháp. 

Vườn Loudres là một thị trấn nhỏ nằm ở chân núi Pyreneés, cách Paris khoảng 600km, được nổi tiếng như một vườn Sinh thái chữa bệnh. Ở Loudres, có nguồn nước ngầm rất tinh khiết  có khả năng chữa bệnh. Tại đây trước đây đã có 66 trường hợp khỏi bệnh rất kỳ lạ. 

4.2. Vùng Sedona Arizona ở bắc Mỹ có nguồn năng lượng Trái đất tương tự như ở Long An, rất nhiều người biết đến. Tại đây, người ta cũng quan sát thấy các dòng năng lượng xoáy phát ra từ những phiến đá trơn nhẵn, các cây cổ thụ có nhiều hình dạng khác nhau. Nguồn năng lượng này phát ra từ đỉnh núi giống như những tia laze. Tại vùng Sedona Arizona, đã có nhiều bệnh nhân ung thư đã được chữa khỏi và giảm bệnh. 

Các loại năng lượng tự nhiên tốt cho các loài sinh vật sống trên trái đất có thể là một sự tổng hoà của rất nhiều trường năng lượng khác nhau như năng lượng đất, năng lượng từ không gian, năng lượng từ nguồn nước v.v.., rất tiếc những loại năng lượng này rất khó phân biệt địa chỉ của nguồn phát xạ bằng những thiết bị đo lường thông thường hiện nay. Do vậy khoa học về vấn đề này vẫn còn để ngỏ với rất nhiều tranh cãi khác nhau trên thế giới nhưng luôn luôn vẫn là một vấn đề vô cùng lý thú và hết sức hữu ích bởi một lẽ đơn giản con người luôn cần một môi trường tốt để tồn tại một cách bền vững.

Dịch từ tài liệu quốc tế, Tháng 9/2008


 

TS. Ngô Kiều Oanh - Viện KHCN VN

PHÁC THẢO NỘI DUNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG TRUYỀN THỐNG CÂY THUỐC DÂN TỘC DAO BA VÌ

Địa điểm: Xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội.

Sự cần thiết: Hơn 80% các gia đình trong xã Ba Vì đều có nghề thuốc lâu đời và là nghề sinh sống chính của tất cả các gia đình. Các hoạt động liên quan tới tìm kiếm, khai thác, chế biến, buôn bán các loài cây thảo dược mọc tự nhiên trong vùng núi Ba Vì. Nghề thuốc gắn kết với thiên nhiên của dãy núi Ba Vì kết hợp với bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Dao tạo thành nền văn hoá bản địa có sức thu hút khách du lịch nếu có mô hình tổ chức phù hợp. Khi khách du lịch tới tham quan, được tận mắt nhìn thấy Vườn thuốc, được giới thiệu các công dụng của từng loại cây thảo dược thông qua lực lượng lương y của làng nghề, kết hợp với thông tin hiệu quả từ người dùng trước sẽ tạo ra uy tín về thương hiệu của các sản phẩm của từng gia đình và làng nghề. Các hoạt động liên quan tới thảo dược Ba Vì như buôn bán, chữa trị, thực phẩm chức năng, các hoạt động du lịch như tham quan học tập điều trị bệnh tại các vườn thuốc gia đình v.v.. Nhưng toàn xã đang đứng trước nguy cơ nguồn sống chính từ kinh tế thảo dược càng ngày càng giảm sút do diện tích tồn tại và phát triển các cây thảo dược tự nhiên bị thu hẹp ngày càng nhiều. Các hoạt động liên quan tới thảo dược rất manh mún và không được tổ chức để phù hợp với sự đòi hỏi của kinh tế thị trường. Thêm vào đó do phải xuống núi từ độ cao 700 – 800m nên các trang phục dân tộc Dao không được sử dụng thường ngày nên đến xã Ba Vì không biết đấy là dân tộc Dao. Toàn xã đang đứng trước việc có thể mất nghề truyền thống và mất bản sắc dân tộc của mình. Để có thể bảo tồn và phát triển một làng nghề Dược thảo rất quý cần thực hiện một số nội dung dưới đây:

1. Xây dựng Tên làng liên quan tới thảo dược, ví dụ: Làng truyền thống cây thuốc dân tộc Dao Ba Vì.

2. Xây dựng Thương hiệu bằng việc thành lập hợp tác xã (HTX) thuốc nam với các nòng cốt giỏi về tổ chức và chuyên môn. Có bộ phận tiếp thị, giao dịch. HTX là địa chỉ gắn kết các vấn đề liên quan tới kinh tế như nắm bắt khách hàng, chuyển giao khoa học, công nghệ về giống, cải tạo đất, đóng gói sản phẩm, thương hiệu và đặc biệt quan trọng là quy hoạch và vay vốn ưu đãi cho xã viên cho việc trồng trọt thảo dược hàng hoá. Chưa kể các tổ chức chuyên thu mua thuốc nam mang tính hàng hoá tập trung lớn rất cần thông qua HTX vì HTX sẽ chịu trách nhiệm chính về chất lượng sản phẩm và thương hiệu của làng nghề. Đăng ký chất lượng của sản phẩm.

3. Xây dựng Hạ tầng: đường xá, nước sạch, điện thoại, công nghệ thông tin và truyền thông.

4. Xây dựng và thực hiện quy hoạch, phân loại vườn hộ và các gia đình điển hình trở thành các điểm tham quan du lịch cho nhiều đối tượng khác nhau đến địa bàn.

5. Xây dựng Nhà văn hoá thông tin làng nghề dân tộc Dao, tại đó là nơi giao lưu văn hoá thường xuyên để bảo tồn văn hoá làng nghề và văn hoá truyền thống như các lễ hội, phục hồi việc mặc trang phục dân tộc, bảo tồn và phát triển nghề thêu đã có từ lâu đời với các hoa văn cầu kỳ và sặc sỡ. Có vị trí trưng bày các thông tin về thảo dược và truyền thống trồng trọt, sơ chế, hiệu quả và văn hoá truyền thống.

6. Kết hợp chặt chẽ với các nhà khoa học để bảo tồn, phát triển các cây thuốc quý bằng những đề tài khoa học của các Trung tâm và các Viện. Tổ chức các hộ trồng sản phẩm hàng hoá thảo dược dưới tán rừng.

7. Thiết lập kế hoạch về sản lượng dự kiến của một số thảo dược là thương hiệu chính để thu xếp về diện tích phát triển và bảo tồn với Vườn quốc gia Ba Vì dưới sự hỗ trợ của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND Tp. Hà Nội. Cung cấp dưới các hình thức sơ chế, chế biến các loại dược thảo gốc thiên nhiên của dãy núi Ba Vì mọc hoang dã hoặc được trồng dưới các tán vườn rừng tại các khu đất xung quanh nhà hoặc tại các khu rừng nhận khoán từ Vườn quốc gia.

8. Kết hợp với Hội đông y Tp. Hà Nội và một số cơ sở đào tạo để đào tạo đội ngũ lương y đông đảo. Trong tương lai kết hợp với du lịch an dưỡng nghỉ ngơi ngay tại các vườn hộ.

9. Thiết lập mô hình quản lý hiện đại về quy trình trồng trọt, kiểm soát chất lượng, tiếp thị quảng bá cho các sản phẩm thảo dược. Thông qua các phương tiện hiện đại phát triển các quan hệ trong nước và quốc tế để thu hút vốn đầu tư cho việc phát triển tất cả các mặt văn hoá, xã hội, kinh tế, dân sinh của làng nghề thuốc Nam Ba Vì một cách dài lâu và bền vững.

Hà Nội, ngày 31/08/2008


 

BÁO CÁO Ý TƯỞNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC CĂN CỨ KHOA HỌC CHO VIỆC QUY HOẠCH VÀ XÂY DỰNG VÙNG CUNG CẤP THỰC PHẨM GỐC TỰ NHIÊN TƯƠI SẠCH AN TOÀN CHO CƯ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI TẠI VÙNG ĐỆM XUNG QUANH CHÂN NÚI BA VÌ

Tiến sĩ. Ngô Kiều Oanh

Chương trình thông tin Quy hoạch vùng và Tài nguyên môi trường

Nhà xuất bản TN & KHCN

Hà Nội tháng 8/2008

A- Sự cần thiết

Hà Nội sẽ phát triển trở thành một Thủ đô rất lớn trong vòng hai ba chục năm tới với số dân lên tới hàng chục triệu người.

Một trong lý do chính để mở rộng Thủ đô là để trong lòng Hà Nội thành hình được một vành đai sản xuất nông nghiệp cung cấp thực phẩm có khả năng kiểm soát được về mặt chất lượng cung cấp cho dân cư và khách quốc tế.

Vấn đề thực phẩm sạch, an toàn để cung cấp tại chỗ cho dân cư tập trung đông đúc sẽ trở thành một vấn đề bức xúc, nhất là khi vấp phải sự thiếu hụt về xăng dầu và lạm phát giá cả tiêu dùng.

Chưa bao giờ vấn đề thực phẩm an toàn lại mang tính thời sự gay gắt như hiện nay khi các dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh, dịch tả với các biến thể phức tạp và vấn nạn về cây rau lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng lan rộng vượt quá tầm kiểm soát.

Đòi hỏi rất chính đáng của cư dân đô thị khi không có cách gì tự bảo vệ mình được trước các thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ là sự trông đợi được cung cấp các sản phẩm mang tính thiên nhiên, tươi sạch và an toàn tại vùng địa dư mà mình biết rất rõ.

Khi Thủ đô mở rộng bao trùm cả khu thiên nhiên nguyên thủy của vùng núi Ba Vì và vùng đệm sinh thái nông nghiệp thì sức ép phá vỡ sẽ rất lớn nếu không xây dựng được một bản quy hoạch phát triển đúng đắn. Cần xây dựng chiến lược phát triển vùng đệm lâu dài bền vững dựa trên việc xác định các nguồn lực về các mặt thiên nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội để làm căn cứ khoa học cho việc quy họach kiến trúc không gian và xây dựng. Đặc biệt cần nhấn mạnh tới sự bảo đảm và nâng cao mức sống cũng như tôn trọng truyền thống văn hóa bản địa của cư dân dân tộc thiểu số đã sống gắn bó với thiên nhiên nguyên thủy tại đó. Cần bảo vệ vĩnh viễn nguồn tài nguyên vô giá là Địa lý cảnh quan và Quỹ gen về động thực vật, côn trùng và vi sinh vật vô giá cho nghiên cứu khoa học tái tạo nguồn gen thiên nhiên phục vụ cho sản xuất sản vật nông nghiệp cũng như đối phó với nguy cơ biến đổi khí hậu. Cần bảo vệ và phát triển những thành quả nông nghiệp đã có sau một thời kỳ rất dài để có đựợc những sản vật vừa mang tính hành hóa vừa mang gốc thiên nhiên tưoi sạch an toàn ngay trong lòng Thủ đô.

B- Các nội dung của Chương trình nghiên cứu Xây dựng Hệ thống các căn cứ khoa học và Quy hoạch vùng cung cấp thực phẩm gốc thiên nhiên

1. Nghiên cứu, điều tra một cách tổng hợp và hệ thống các nguồn lực thiên nhiên, kinh tế và xã hội có liên quan tới nền sinh thái nông nghiệp và sinh thái tự nhiên tại vùng đệm chân núi Ba Vì.

2. Nghiên cứu điều tra nguồn tài nguyên sinh thái nguyên thủy, cảnh quan, khí hậu của vùng núi Ba Vì và ảnh hưởng của nó lên vùng đệm xung quanh chân núi. Khả năng bảo tồn, phát triển tài nguyên đa dạng sinh học (nguồn gen thực - động vật, côn trùng và vi sinh vật).

3. Nghiên cứu xây dựng Bản Quy hoạch Vùng phát triển thực phẩm sạch an toàn gốc thiên nhiên tại vùng đệm Núi Ba Vì trở thành lõi của Vành đai thực phẩm an toàn cho Thủ đô mở rộng.

4. Nghiên cứu xây dựng một số mô hình quản lý tiên tíến phù hợp để phát triển Nông nghiệp nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn, mức sống nông dân và chất lượng sản phẩm nông nghiệp của vùng đệm. Trong số đó có mô hình du lịch nông nghiệp, nông trại

5. Nghiên cứu triển khai một số mô hình trình diễn mang tính chất điển hình về ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ trên một số sản vật cụ thể.

C- Cơ sở thực tiễn và tính khả thi của việc nghiên cứu và xây dựng vùng cung cấp thực phẩm gốc thiên nhiên tại vùng đệm Ba vì

1. Nhu cầu cấp thiết về việc bảo vệ quỹ gen và cảnh quan thiên nhiên nguyên bản để đáp ứng việc xây dựng một vùng đệm cung cấp thực phẩm thiên nhiên, lõi của vành đai thực phẩm an toàn

2. Nhu cầu bắt buộc phải tìm kiếm một mô hình chuyển đổi phù hợp cho 2/3 số dân nông nghiệp của Thủ đô mở rộng

3. Nhu cầu áp dụng khoa học công nghệ & mô hình quản lý hiện đại để xây dựng một nền nông nghiệp công nghiệp cao tại một Thủ đô mà kinh tế tri thức sẽ là ngành kinh tế chính.

D- Nguồn lực có sẵn

I. Tài nguyên sinh thái, cảnh quan, khí hậu

- Khu rừng nguyên thủy trên các độ cao của núi Ba Vì là một kho tài nguyên thiên nhiên vô giá, có giá trị như một quỹ gen nguyên bản về thảm thực vật, động vật, côn trùng và các loài vi sinh vật đa dạng.

- Một vùng đệm có thổ nhưỡng, nguồn nước tinh khiết và tiểu khí hậu rất phù hợp cho việc phát triển các loại thực phẩm mang gốc thiên nhiên.

II. Khoa học Công nghệ

- Vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì nơi đã hình thành rất nhiều quy trình sản xuất nông nghiệp để ra các sản vật do đã có sự tham gia của rất nhiều thế hệ các nhà khoa học & chuyên gia nông nghiệp của các Trung tâm nghiên cứu cấp Bộ & TW

- Tất cả các cơ sở nghiên cứu thực hành đều đã trở thành các Trung tâm giống gốc Quốc gia,là nơi chuyển giao giống tốt nhất cho toàn quốc. Đã hình thành được một vùng cung cấp nhiều chủng loại đặc sản mang gốc thiên nhiên do hương vị thơm ngon & tươi sạch.

- Lực lượng chất xám của thủ đô Hà Nội với các phòng thí nghiệm quốc gia.

III. Lực lượng lao động nông nghiệp của vùng đệm

Đông đảo & đa dạng ngành nghề .

Có truyền thống & kỹ năng canh tác sản xuất nên đã thành hình các làng, xã chuyên canh cho một số sản vật mang tính hàng hóa khá lâu đời.

Dễ dàng tiếp cận với khoa học & công nghệ.

IV. Nguồn vốn

Nguồn vốn Khoa học Công nghệ của TW và Hà Nội.

 Nguồn vốn ưu đãi cho phát triển nông nghiệp theo hướng áp dụng khoa học công nghệ để xây dựng mô hình điểm về xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao ngay tại Thủ đô Hà Nội phục vụ cho việc triển khai vào thực tiễn nghị quyết của Ban bí thư về chính sách tam nông.

E- Kế hoạch hành động đến cuối năm 2008

Các bước tiến hành:

1. Xây dựng ý tưởng với việc xây dựng thông tin dữ liệu minh hoạ ban đầu mang tính hệ thống tổng quát.

2. Xác nhận các căn cứ khoa học & tính thực tiễn của ý tưởng với sự đóng góp của nhiều chuyên gia khoa học và quản lý có liên quan. Xác định các tổ chức tham gia vào chương trình nghiên cứu và quy hoạch.

3. Xin chủ trương từ các cấp quản lý & lãnh đạo của TW và TP. Hà Nội về sự cần thiết xây dựng chương trình nghiên cứu và xây dựng quy hoạch.

4. Xây dựng đề cương và bảo vệ.

F. Khó khăn & thách thức

- Sự nhất trí của lãnh đạo TP&TW về hướng quy hoạch nông nghiệp tại vùng đệm.

- Xác định đơn vị điều phối chủ chốt toàn bộ chương trình nghiên cứu, xây dựng quy hoạch & thực hiện quy hoạch

- Xây dựng các đề tài trong chương trình có thể thu hút nhanh nguồn vốn trong năm 2009.

CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC MỘT DIỄN ĐÀN KHOA HỌC GÓP Ý VỀ VIỆC XÂY DỰNG ĐỂ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Thời gian: Trong tháng 9/2008

Đơn vị tổ chức:

Địa điểm: 

Với các tham luận cho các nội dung dưới đây:

CÁC THAM LUẬN (Đề nghị tham gia ý kiến)

a- Nhu cầu cấp thiết của việc cung cấp thực phẩm gốc thiên nhiên  

b- Khả năng đáp ứng sản phẩm từ vùng đệm trước các nhu cầu chính đáng của cộng đồng dân cư đô thị Hà Nội.

c- Sự đóng góp của Khoa học Công nghệ, chính sách vĩ mô, các cơ chế vốn để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp làm thực phẩm.

d- Các biện pháp tăng cung và kích cầu thông qua việc xây dựng mô hình quản lý thích hợp, hiện đại dựa trên nền áp dụng thông tin điện tử và truyền thông cho các quy trình sau:

- Quy trình sản xuất

- Quy trình kiểm soát chất lượng

- Quy trình quảng bá sản phẩm thông qua…

- Quy trình phân phối sản phẩm trực tiếp. Sản xuất – Tiêu dùng (Producer to customer) – thông qua các hoạt động du lịch nông nghiệp.

Mô hình các trang trại đóng vai trò như mạng lưới các chợ đầu mối để liên kết sản vật (thu mua, kiểm soát chất lượng, tiếp xúc khách hàng, chuyển giao khoa học công nghệ cho các nông hộ).

e- Đánh giá các nguồn lực của vùng đệm

1. Thiên nhiên:

- Thảm tài nguyên sinh thái

- Cảnh quan, địa lý, địa chất

 2. Nhân lực:

- Lực lượng chuyên môn cao về chất xám của các trung tâm nghiên cứu và thực hành

- Lực lượng lao động của các làng chuyên canh

 3. Quản lý:

Bộ máy mới của Tp. Hà Nội với chủ trương xây dựng vành đai cung cấp thực phẩm an toàn, sạch cho dân cư thành phố Hà nội mở rộng.

 4. Khoa học và Công nghệ: Khả năng áp dụng các thành quả nghiên cứu vào thực tiễn nhanh chóng vì có cơ sở vật chất, nhân lực khoa học và lực lượng, địa bàn ứng dụng.

f- So sánh hiệu quả về mặt xã hội và kinh tế sử dụng diện tích vùng đệm xung quanh chân núi Ba Vì cho các mục đích khác nhau.

Các khu du lịch giải trí đơn thuần

Du lịch nông nghiệp

Xây dựng đô thị hiện đại

Xây dựng khu dân cư nông nghiệp phù hợp

Các cơ quan tham gia bước đầu (về ý tưởng) trong năm 2008:

a- Các cơ quan nghiên cứu (thuộc Viện KHCN VN)

- Nhà xuất bản KHTN & CNQG (bảo đảm thông tin và kết nối hệ thống);

- Viện Công nghệ Sinh học;

- Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật;

- Viện Địa lý;

b- Các cơ quan nghiên cứu có sẵn tại địa bàn

- Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì;

- Trung tâm nghiên cứu Dê, Cừu, Thỏ.

c- Cơ sở ứng dụng

- Xã Ba Vì (HTX thuốc nam người Dao);

- Xã Ba Trại (Làng nghề trồng Chè);

- HTX bò sữa Hài Hoà xã Yên Bài, Ba Vì.

- HTX dê sữa xã Tản Lĩnh – Ba Vì


Ý KIẾN CỦA ÔNG HÀ HUY LỢI - GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN NGÔI SAO (NINH BÌNH)

Là doanh nghiệp tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái kết hợp với các hoạt động nông nghiệp từ năm 2003 đến nay, phục vụ chủ yếu cho khách du lịch quốc tế đến từ ba quốc gia: Hàn Quốc, Pháp và Nhật Bản. Theo ông: “Đây là mô hình rất hiệu quả về nhiều mặt, về mặt kinh tế và xã hội vì đã tạo cơ hội cho cộng đồng nông dân tham gia rất dễ dàng. Nhưng để đạt được tính bền vững lâu dài thì việc ưu tiên số một là cần xây dựng một bản quy hoạch nhằm giữ lại được tối đa đất nông nghiệp. Số diện tích trên phải được bảo đảm bằng luật hóa để tránh tình trạng đầu cơ, mua bán, tách hộ v.v.. Trong quy hoạch tour du lịch nông thôn của bất cứ vùng nào cũng  cần phải có tâm điểm nhấn hấp dẫn: ví dụ  tại đây nơi công ty hoạt động với các hộ nông dân là dựa vào vùng dịên tích 20.000 ha của khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long để xây dựng các hoạt động nông nghiệp truyền thống của vùng đất ngập nước như bắt cua, đánh vó, kéo lưới, đi thuyền nan, đánh bắt cá, sử dụng xe trâu, bò vẫn đang phục vụ sản xuất nông nghiệp để chở khách tham quan theo tour v.v.. Các hoạt động trên đã rất hấp dẫn khách du lịch quốc tế vì được thưởng thức thiên nhiên nông nghiệp nguyên thủy. Doanh nghiệp đã vận động được sự tham gia đóng góp của cộng đồng cư dân nông nghiệp (nhà cổ xưa, phương tiện sản xuất, làng nghề gốm, ẩm thực đồng quê v.v..). Nên doanh nghiệp hoạt động du lịch nông nghiệp không cần đầu tư lớn nhưng rất hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ phải tìm khách, mở tour, xây dựng quy hoạch trình các cấp quản lý, quảng cáo v.v.. Và một điều mấu chốt là các hoạt động du lịch nông nghiệp này hoàn toàn phải được địa phương ủng hộ từ cấp thôn, xã và phải nhận được sự đầu tư hạ tầng từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh. Trên các kết quả đã đạt được tại vùng Vân Long này (chỉ cách Hà Nội 90 km trên đường đi Cúc Phương) UBND tỉnh Ninh Bình đang tiến hành xây dựng Dự án du lịch sinh thái nông nghiệp cho cộng đồng cư dân nông thôn bảy xã của vùng bảo tồn khu đất ngập nước Vân Long. Sẽ chọn 5 – 7 nhà dân làm mô hình thí điểm cho mỗi thôn. Ngân sách nhà nước tỉnh sẽ hỗ trợ cho các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, cho các hộ tham gia du lịch nông nghiệp vay lãi suất thấp để cải tạo nhà cho khách lưu trú, làm nhà vệ sinh, đầu tư đường xá cho tour đồng quê.

Tóm lại sau nhiều năm hoạt động du lịch nông nghiệp đã đạt được các kết quả đáng khích lệ như:

+ Mức sống nông dân tại vùng quê nghèo (ví dụ: làng Tập Ninh trước đây rất nghèo) đã được cải thiện rõ rệt do các hộ có được thu nhập từ các hoạt động dịch vụ như chở khách du lịch quốc tế bằng xe trâu, bò, chở đò tham quan các điểm trong khu bảo tồn Vân Long, bán đồ lưu niệm, nấu ăn từ các sản phẩm mà khách tự đánh bắt được trên cánh đồng (tôm, cua, cá…)

+ Bảo tồn được nghiêm ngặt khu sinh thái ngập nước Vân Long nhờ sự cộng tác của cộng đồng dân cư nông nghiệp tại chỗ vì qua các thu nhập kinh tế từ các hoạt động dịch vụ, người dân nhận thức được rất rõ ràng đó là tài nguyên thiên nhiên quý giá mà họ có thể dựa vào đó để sống lâu dài và bền vững. Và cũng nhờ ý thức tự giác bảo vệ của từng người dân  tại đây nên cảnh quan khu ngập nước này ngày càng vô cùng quyến rũ khách quốc tế và nội địa đến tham quan. Hiện nay mỗi năm đã đón được khoản 80.000 – 90.000 khách du lịch quốc tế đến thăm.

Tháng 12/2008


 

Ý KIẾN CỦA GS. TS T.W.ALLAN WHITFIELD FRSA - GIẢNG VIÊN NGHIÊN CỨU ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SWINBURNE, AUSTRALIA

Thân gửi Ts. Oanh,

Ngôi làng lịch sử Đường Lâm

Thật là một vinh hạnh lớn lao khi tôi được ghé thăm địa danh lịch sử quan trọng này tại vùng đất phía Bắc đất nước bạn. Tôi thực sự ấn tượng với những gì còn được gìn giữ, và tôi cũng đã thấy được sự nỗ lực to lớn trong việc trùng tu và bảo tồn nhiều những công trình lịch sử.

Cùng với tầm quan trọng của việc bảo tồn lịch sử, tôi cũng còn thấy được cả những cơ hội mà ngôi làng này có thể chào mời trong lĩnh vực du lịch, không chỉ với những du khách Việt Nam, mà còn với cả những du khách quốc tế tới thăm đất nước bạn. Tôi chắc là bạn cũng đã ý thức được, lĩnh vực tăng trưởng chính ở Phương Tây thuộc về Du lịch Văn hoá. Ngày càng có nhiều người trung tuổi giàu có mong muốn có được những trải nghiệm văn hoá. Họ mong đợi những giá trị đích thực và sẵn sàng trả tiền vì điều đó. Ngôi làng lịch sử Đường Lâm hoàn toàn phù hợp với mong mỏi đó, và có thể dễ dàng lập thành Tuyến Du lịch Văn hoá với việc mở rộng ra ngoài phạm vi Ngôi làng sang cả những lĩnh vực thu hút khác. Chẳng hạn, ngôi làng tôi đến thăm đó có thể làm gốm sứ sẽ rất phù hợp. Du lịch là ngành công nghiệp lớn nhất của thế giới. Việc nắm được lợi thế của những cái giản đơn nhỏ bé này cũng mang lại được những lợi ích kinh tế đáng kể cho vùng và cho Việt Nam nói chung.

Cần nói rằng, tôi phải thú nhận tôi rất ngạc nhiên khi có nhiều công tác bảo tồn chưa được thực hiện. Tôi tự nhủ rằng giá như Chính phủ bạn hiểu được những gì đang có ở đây. Tôi là người Anh và tôi đã quen với cách Chính phủ Anh bảo tồn những công trình lịch sử. Họ không làm chỉ để gìn giữ di sản, mà làm để kiếm tiền từ du lịch. Người Châu Âu là những chuyên gia trong lĩnh vực này. Pháp đã đón nhận được nhiều khách du lịch hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới, phần lớn là thăm quan các di sản của họ. Tôi tin rằng Anh là nước thứ hai. Họ đóng góp tới hàng tỉ đô-la cho nền kinh tế. Thậm chí, Australia nơi tôi đang sống, cũng bảo tồn bất kỳ công trình nào có tuổi trên 150năm, và bán vé thăm quan cho khách vào những công trình như vậy. Australia chỉ có ít các công trình lịch sử, trong khi Việt Nam có rất nhiều các công trình văn hoá lịch sử như vậy.

Tôi hy vọng rằng điều tôi nói đây không khiến bạn mếch lòng. Sự quan tâm của tôi là bạn đừng vứt đi những ngôi làng đậm giá trị lịch sử của mình, như đã từng xảy ra ở nhiều nơi thuộc Châu Á, cụ thể là ở Trung Quốc. Xin hãy phát huy nó như một nguồn tài nguyên của đất nước bạn để nó nối tiếp mãi mãi, và sẽ thu hút du khách và làm lợi cho nền kinh tế của bạn mãi mãi!

Để nắm bắt lợi thế toàn diện của cơ hội này trong ngôi làng lịch sử Đường Lâm, bạn cần chú tâm sâu sắc những vấn đề sau:

            ·     Những kiểm soát quy hoạch nghiêm nhặt rất cần thiết để ngăn chặn mọi người xây dựng nhà cửa hay hiện đại hoá nhà cửa mà có thể khiến chúng lạc điệu với Ngôi làng Lịch sử. Điều này rất thiết yếu nếu không toàn bộ ngôi làng sẽ bị phá huỷ.

·     Quy hoạch rất cần thiết cho việc phát huy hơn nữa những giá trị của ngôi làng. Điều này sẽ giúp gìn giữ và bảo tồn cho nhiều công trình. Mục đích là nhằm tái tạo Ngôi làng như nó đã từng.

·     Một số các cơ sở tiện nghi hiện đại cần được trang bị cho nhu cầu của khách du lịch. Chẳng hạn, các nhà vệ sinh hiện đại là rất cần thiết nếu bạn muốn thu hút những Khách du lịch Văn hoá Phương tây giàu có. Chúng cần được đặt một cách biệt lập trong ‘những công trình phụ cận’. Những tờ giới thiệu được thiết kế chuyên nghiệp rất cần thiết, được dịch sang Tiếng Anh, và trang web thiết kế công phu sẽ là cổng giao tiếp với khán-độc giả quốc tế.

Bạn đang có những tài sản lịch sử thực sự để lôi kéo du khách. Xin hãy nắm bắt lợi thế này!

Trân trọng,

Tháng 03/2009


Ý TƯỞNG CHUYỂN VÙNG SẢN XUẤT BƯỞI DIỄN, CAM CANH - ĐẶC SẢN QUÝ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG TƯƠNG LAI

Xã Minh Khai thuộc vùng Diễn cổ thời xưa gồm 7 làng: Phú Diễn, Đức Diễn, Kiều Mai, Đình Quán, Ngoạ Long, Văn Trì, Nguyên Xá thuộc tổng Cổ Nhuế, Phủ Hoài Đức huyện Từ Liêm tỉnh Hà Đông. Hai xã này nằm trên dải đất từ bên này sông Cầu Diễn đến ngã tư Nhổn dọc theo quốc lộ 32 đường Hà Nội đi Sơn Tây cách trung tâm thành phố chỉ 5 km.

Ngày nay xã Minh Khai có 4 thôn: Văn Trì, Nguyên Xá, Ngoạ Long (thuộc vùng Diễn cổ) và Phúc Lý thuộc tổng Đăm mới nhập vào sau này. Số dân trong xã là 12.936 người. Số hộ 2.500 hộ. Số diện tích trồng cam bưởi là:  50 ha, trước đây vài năm là 70 ha (Do nguyên nhân bị thoái hoá dồn dập mấy năm nay nên người dân đã chặt bỏ gần 20 ha và nó còn thu hẹp nữa nếu không tìm ra phương thức giải quyết sớm). Là một xã thuần nông nên nguồn thu nhập chính là cây cam, cây bưởi và rau màu khác.

Nguồn gốc cây cam Canh, bưởi Diễn từ đâu đến thật chính xác chưa rõ lắm. Theo truyền miệng thì cây bưởi Diễn từ đất tổ Đoan Hùng Phú Thọ và cây cam canh đến từ 4 địa danh nổi tiếng là Mỗ, La, Canh, Cáo. Cam Canh, bưởi Diễn đã bén duyên với người vùng Diễn nói chung, xã Minh Khai nói riêng từ cuối thế kỷ 19 và trở thành một đặc sản với chất lượng ngon hơn vùng gốc của nó. Từ đó đến nay, cam Canh, bưởi Diễn đã cùng chia sẻ buồn vui với người dân vùng Diễn. Nhiều gia đình bớt khó khăn về kinh tế và giàu lên từ cam, bưởi. Từ những năm của của thập kỷ 80 đến năm 2000 trở về trước, cam Canh bưởi Diễn ở Văn Trì - Minh Khai đã trở thành loại quả đặc sản rất quý của Thủ đô Hà Nội. Đất trời địa danh vùng Diễn Văn Trì đã khai sinh ra giống bưởi Diễn, gọi tên là “bưởi Diễn” được gọi là vùng gốc của loại cây này vì những lý do sau:

1. Đất Văn Trì thích hợp với cây cam Canh, cây bưởi Diễn, nhà nhà trồng cam, bưởi, vườn vườn trồng cam bưởi. Ai có dịp đến Văn Trì vào những ngày Tết xuân về, các du khách Tràng An thanh lịch sành ăn lại hối hả tìm đến Văn Trì - Minh Khai mua cam, mua bưởi vui như trẩy hội. Các du khách không chỉ bị quyến rũ bởi màu sắc cam bưởi đỏ vàng tuyệt đẹp và còn say mê vì vị ngọt thơm độc đáo nhẹ nhàng mà đất người Văn Trì cần mẫn, chân chất gửi hồn vào trái cam, trái bưởi hàng thế kỷ qua được thể hiện rõ bằng mấy vần thơ :

Cam Canh bưởi Diễn quê ta

Ngọt thơm truyền thống đậm đà tình quê

Hàng năm đến độ Xuân về

Khách Hà thành nhớ tìm về làng Văn (Văn Trì)

Cây bưởi Diễn trồng trên đất Văn Trì là loại đất thịt nặng pha sét kết hợp với kỹ thuật chăm bón của một làng nghề trồng bưởi hàng trăm năm đã tạo ra năng suất, chất lượng quả ngon, ngọt độc đáo và mùi thơm tao nhã, tinh khiết mà các giống bưởi khác không có, có khả năng tự bảo quản rất lâu từ 3 – 6 tháng so với các loại bưởi thông thường khác và đặc biệt là thời vụ thu hoạch (kéo dài từ tháng 11 âm lịch năm trước đến tháng 4 âm lịch năm sau), nên bưởi Diễn được gọi là Vua Bưởi. Đó là một lợi thế đặc biệt để tiêu thụ sản phẩm. Vì thế suốt mấy chục năm qua, không bao giờ đủ bưởi ngon để cung cấp cho thị trường lớn của Hà Nội, nhất là vào tháng 3, tháng 4 âm lịch.

2. Từ những năm 1980, cam Canh bưởi Diễn phát triển rất mạnh ở Văn Trì - Minh Khai tạo thành một vùng sinh thái thật trong lành. 3 tháng hoa thơm mùa xuân, 3 tháng quả thơm mùa đông. Những sắc màu quả đỏ vàng rực rỡ. Những hương quả, hương hoa toả ra ngan ngát quanh làng tạo ra một vùng đất trời làng Văn Trì - Minh Khai trù phù yên ấm, thanh bình. Cây cam, cây bưởi đem lại nguồn kinh tế cho dân những năm ấy thật đáng kể và môi trường thì vô giá. Những năm ấy có nhiều vườn cam, bưởi cho thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng đến 70 - 80 triệu đồng một năm như nhà các ông: Chiêm, Hà, Giang, Nhiên, Hoà, Nhiệm và Sinh… Cam , bưởi những năm ấy cho năng suất rất cao. Trồng cam, bưởi với mật độ 16 m2/cây thì với một cây bưởi từ 5 năm đến 15 năm tuổi có thể cho từ 50 đến 200 quả. Với giá 15 ngàn/quả, bình quân 50 quả 1 cây cho thu nhập 750.000 đ. Nếu trồng 1 ha bưởi cho thu nhập 750.000đ x 625 cây/ha = 468.750.000 đ. Với cây cam từ 3 năm đến 5 năm tuổi cho từ 300 đến 800 quả. Với giá khiêm tốn 20 ngàn/kg, 1 cây cam cho thu nhập từ 600.000 đ đến 1.600.000 đ (10 quả/kg). Như vậy 1 ha cam cho thu nhập 600.000 đ x 625 cây/ha = 393.000.000 đ.

Cam bưởi không những đem lại kinh tế và môi trường đáng kể và vô giá nói trên mà còn là điều kiện để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt vào dịp Tết Nguyên đán. Cam Canh, bưởi Diễn lên mâm ngũ quả thờ cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ và bạn hữu gần xa, qua đó làm cho cõi tâm linh và tình cảm con người gần gũi nhau, thân thiện hơn. Từ đất Văn Trì cam Canh và bưởi Diễn đã phát triển mạnh ra rất nhiều các xã trong huyện Từ Liêm, đặc biệt tại xã Minh Khai.

Nhưng từ năm 2001 đến nay đã có những biến động xấu rất đáng kinh ngạc về năng suất và chất lượng quả như là vẫn con người ấy, vẫn giống cam bưởi ấy, vẫn mảnh vườn ấy và kỹ thuật chăm bón ấy mà ngày xưa thì cho chất lượng quả ngon, năng suất cao thế mà các năm vừa qua chất lượng quả ngon chỉ đạt 30-40% diện tích vườn và năng suất quả giảm 80-90%. Và chỉ có vài gia đình có vườn bưởi thu nhập đạt 30-60 triệu 1 năm, còn lại hầu hết chỉ đạt từ 2-3-5-10 triệu đồng là cao.

Diện tích trồng cam, bưởi toàn xã Minh Khai hiện có 50ha, khoảng 24.220 gốc bản địa là các cây cam, bưởi “giống thuần từ thời xưa”. Hiện xã có 7000 dân sống bằng nguồn thu nhập từ cam bưởi, có nhiều người đã trồng cam bưởi hàng 30, 40 năm, đã kêu trời “Trời làm mất mùa liên tiếp thế này thì sống bằng cách nào trong những năm tới”. Rồi họ nuối tiếc những năm xưa “làm chơi ăn thật, mấy năm nay làm thật ăn giả”, “Rồi đến phải bỏ cái giống quý này mà trồng cây khác thôi”. Thậm chí có một số gia đình đã chặt bỏ cam bưởi để trồng rau màu khác hoặc xây dựng nhà trọ cho sinh viên thuê, dẫn đến tình trạng số lượng cây cổ (giống gen quý) ngày càng bị giảm sút tiến tới sẽ mất nguồn gen quý của loại cây đặc sản này mà chỉ có Thủ đô Hà Nội mới có. Mấy năm nay đã nhiều địa phương khác đến lấy giống cam Canh bưởi Diễn về trồng nhưng do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đặc biệt không có tay nghề và công nghệ trồng nên chất lượng hoàn toàn khác: bưởi mang vị đắng chứ không ngọt thanh và sắc như ở đây, còn cam vỏ dày hơn, tép bị khô và vị rất nhạt không ngọt đậm như tại đất Minh Khai.

Nếu tiếp tục tình trạng đô thị hoá và ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí với tốc độ cao như hiện nay thì khả năng trong tương lai rất gần Hà Nội sẽ mất một thương hiệu quả đặc sản quý hiếm, điều đó thật đáng tiếc vì rất ít trái cây đặc sản nào lại có một thị trường tiêu thụ lớn và gần đến như vậy như cam Canh bưởi Diễn vì chất lượng cao, mùi thơm, tự bản quản không cần sử dụng hoá chất bảo quản và tính trái vụ của nó.

Nhằm “duy trì, phục hồi, bảo tồn và phát triển cây cam Canh và bưởi Diễn” tức là phải bảo trì và phát triển giống gen đặc sản bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế cao, mà điều quan trọng nhất là phải duy trì giữ gìn được đội ngũ nghệ nhân của một làng nghề truyền thống trồng bưởi của Thủ đô Hà Nội. Chương trình sanvatbavi.com.vn đã tổ chức cuộc tham quan đầu xuân 2009 của các Ban ngành và Nghệ nhân xã Minh Khai (huyện Từ Liêm) lên vùng đất xã Phú Cường ven sông Hồng, thuộc huyện Ba Vì. Sau khi tham quan đồng đất Phú Cường, các nghệ nhân của xã Minh Khai đã khẳng định là chất đất, khí hậu, nguồn nước tại đây rất phù hợp và rất giống với vùng trồng cây bưởi Diễn gốc tại làng Văn Trì xã Minh Khai. Thay mặt Lãnh đạo UBND xã Phú Cường - Ông chủ tịch Đỗ Đăng Ninh cũng rất phấn khởi trước ý tưởng hợp tác và liên kết này vì diện tích nông nghiệp của xã hiện nay rất lớn, hàng nghìn hecta nhưng chưa tạo ra được sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao. Hy vọng rằng, với công nghệ và tay nghề của lực lượng nghệ nhân trồng bưởi xã Minh Khai và nếu được sự hỗ trợ về chủ trương, khoa học công nghệ, cơ chế, chính sách, tài chính của Tp. Hà Nội về ý tưởng chuyển vùng sẽ tạo ra một vùng chuyên canh mang tính hàng hoá cho cây đặc sản quý cam Canh - bưởi Diễn. Được biết, sắp tới UBND xã Minh Khai sẽ tiến hành tổ chức một Hội thảo chuyên đề về vấn đề bảo tồn, phát triển bưởi Diễn, cam Canh nhằm xúc tiến nhanh một sự nghiệp có ý nghĩa lớn trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và xây dựng được thương hiệu cam Canh, bưởi Diễn Hà Nội trên việc tạo ra được một vùng trồng cây hoa quả đặc sản mang tính hàng hoá lớn, bền vững, đưa lại được niềm tự hào cho nền nông nghiệp của một Thủ đô văn minh và trí thức.   

Sanvatbavi.com.vn

Hà nội, tháng Giêng 2009

  

Thành phần đoàn tham quan của xă Minh  Khai – Huyện Từ Liêm - Hà Nội bao gồm:

1. Nguyễn Minh Vinh - PCT - HĐND Xã Minh Khai

2. Vũ Đình Thắm - PCT - UBND Xã Minh Khai

3. Nguyễn Văn Thà: CT Mặt trận TQ xã Minh Khai

4. Nguyễn Văn Quyền - CN HTX Văn Trì

5. Nguyễn Viết Hân: Trưởng thôn Văn Trì

6. Nguyễn Thái Bình: Phó thôn Văn Trì

7. Lê Ngọc Cơ: Phó thôn Văn Trì

8. Vương Thị Huyền: Kế toán HTX Văn Trì

9. Ngô Văn Hoà: Chi hội trưởng chi hội ND Thôn Văn Trì

10. Vương Duy Hiến: Đội trưởng sản xuất

11. Nguyễn Thế Vinh: Đội trưởng sản xuất

12. Nguyễn Hồng Vân: Tổ DV giống cây

 

 

SanvatBavi.com.vn

Ý kiến đóng góp

Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến diễn đàn, thông tin về sản phẩm, thông tin liên kết, thông tin quảng cáo trên trang Web này .
Xin gửi thông tin cho chúng tôi theo mẫu dưới đây:
Họ và tên :
Đơn vị :
Địa chỉ :
Điện thoại :
Email :
Website:
Nội dung :
Mã xác nhận:
Gõ lại mã xác nhận: (Bạn nhập chính xác mã trên gồm 5 ký tự)
 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam