Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Báo chí
Du lịch nông nghiệp
Khoa học
Đoàn khách
Lịch sử sản vật
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
21 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
DU LỊCH NÔNG NGHIỆP
Du lịch nông nghiệp - Chiến lược phát triển nông thôn ở Hàn Quốc

Tác giả: Lee Seong-Woo - Phó Giáo sư, Chương trình Thông tin Vùng, Viện Nghiên cứu Kiến trúc Cảnh quan và Quy hoạch Vùng, Đại học Quốc gia Seoul .

Sou-Yeon - Trợ giảng,

I. Lời giới thiệu:

Du lịch nông nghiệp, còn được gọi là du lịch sinh thái hay du lịch nông thôn, được vận dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới như một trong những chính sách cho nông thôn chủ yếu nhằm tạo ra tính vững mạnh cho nông thôn. Thuật ngữ ở đây chúng tôi sử dụng- Du lịch nông nghiệp, là sự kết hợp của các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm sinh thái và sản phẩm văn hoá mà chúng bao hàm các chức năng khác nhau như kinh tế, xã hội, giáo dục, môi trường, giải trí, chữa bệnh, v.v.. Du lịch nông nghiệp giúp chúng ta đánh giá lại những giá trị tài nguyên nông thôn còn chưa được đặt ra trong quá trình hiện đại hoá của nền kinh tế quốc dân, đưa ra những cái nhìn thấu đáo cho cả người nông dân và các nhà hoạch định chính sách nhằm đạt được những triển vọng to lớn hơn so với tâm lý chỉ định hướng vào sản xuất nông sản cho đến nay trong việc phát triển nông thôn (Ohe, 2006). Ranh giới và việc ứng dụng du lịch nông nghiệp cũng khá khác nhau; tuy nhiên, nhìn chung nó bao gồm sản xuất nông nghiệp, lối sống và môi trường nông thôn nhằm hỗ trợ con người ở cả khu vực nông thôn lẫn vùng đô thị. Nghiên cứu cũng được mở rộng theo quan điểm các hoạt động kinh doanh nông thôn dựa vào trang trại ở cả những quốc gia đang phát triển và phát triển (Kannan và Singh, 2006; Liu, 2006; Ohe, 2006; Page và Getz, 1997). Trong khi tất cả chúng tôi đồng ý rằng đó không phải là liều thuốc tạo nên sự sống lại của nông thôn, nói chung, nó chỉ được xem xét như một cách tái tạo sinh khí mới cho nền kinh tế nông thôn vốn đã có sự suy thoái đáng kể vì luôn đối kháng với nền kinh tế đô thị do không có sự quan tâm tới  tình hình kinh tế của nông thôn.

Tài liệu này khảo cứu những kinh nghiệm hoạch định chính sách khác nhau về nâng cao vai trò du lịch nông nghiệp ở Hàn Quốc. Bởi chiến dịch “làng quê với chủ đề nông thôn” (rural theme village) như là một chiến lược phát triển nông thôn có liên quan mật thiết nhất với những trao đổi về du lịch nông nghiệp, nên tài liệu này sẽ khảo cứu vào những chiều hướng chiến lược du lịch nông nghiệp hiện tại và trong quá khứ mà chính phủ Hàn Quốc đã theo đuổi. Tài liệu này sẽ kiểm chứng tại sao du lịch nông nghiệp lại nổi lên như một trong những chiến lược phát triển nông thôn chính yếu ở Hàn Quốc. Cùng với bối cảnh lịch sử phát triển du lịch nông nghiệp ở Hàn Quốc, tài liệu này còn giới thiệu các đặc tính hiện tại và tương lại có thể xảy ra của du lịch xanh đối với mục tiêu phát triển cộng đồng nông thôn ở Hàn Quốc. Tài liệu này cũng kiểm chứng vai trò đúc rút được của du lịch trong việc phát triển nông thôn. Sự quan tâm đặc biệt được dành cho các phương thức mà ở đó sự phát triển những điểm thu hút du lịch đang tạo ra những thay đổi về thái độ đối với cả việc đánh giá tiềm lực nông thôn và quan hệ kinh doanh. Đưa ra những câu chuyện thành công và thất bại, tài liệu này cũng nhằm đánh giá tại sao sự phát triển những điểm thu hút du lịch lại trở nên chậm chạp ở các vùng nông thôn của Hàn Quốc, đánh giá những hạn chế, những tồn tại và những vấn đề rút ra được trong thập niên qua.

Tài liệu này sẽ mở đầu bằng việc giải thích tình hình chung về các chính sách phát triển du lịch nông thôn ở Hàn Quốc trong phần kế tiếp. Sự triển khai những chính sách về làng quê với chủ đề nông thôn cũng được giải thích ở Phần III. Phần V sẽ đưa ra đề xuất nhằm đổi mới những chương trình phát triển nông thôn hướng vào việc đáp ứng nhu cầu của những người ở nông thôn và thành thị. Cuối cùng, Phần VI sẽ kết luận với một số cảnh báo được rút ra từ những trải nghiệm đã qua và với một số định hướng tương lại cho du lịch nông nghiệp ở Hàn Quốc.

II. Vài nét sơ lược:

Thành tựu kinh tế của miền Nam Triều Tiên cho thấy rõ nhất “một ví dụ xác đáng về sự tăng trưởng chóng vánh của kẻ đến sau, đã kết tinh được cả một trường kỳ kinh nghiệm của lịch sử phát triển của các quốc gia phát triển” (Cho, 1994). Trong thập niên 1960, miền Nam Triều Tiên (sau đây gọi là Hàn Quốc) đạt mức GDP đầu người là 80USD/năm, một con số xếp đất nước này vào cùng mức với Ghana và Sudan và sau Ấn Độ một chút. Về sau, Hàn Quốc đã trở thành một đỉnh cao về biểu đồ tăng trưởng của thế giới, với bốn mươi năm tăng trưởng trung bình đạt hơn 8% năm, sự tăng trưởng gấp đôi được lặp lại nhiều lần với sự bùng nổ theo cấp số mũ về tăng trưởng kinh tế.. Ngày nay, sự phát triển kinh tế chóng vánh đã nâng được mức thu nhập bình quân đầu người của Hàn quốc từ một phần ba vào giữa thập niên 1980 lên hai phần ba mức trung bình của OECD năm 2005 (OECD, 2005a; 2005b).

Nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, với chương trình công nghiệp hoá Hàn Quốc đã thông qua một chiến lược tăng trưởng bất cân đối. Sự bất cân đối được tiên liệu sẵn đã biểu hiện ở nhiều khu vực: chẳng hạn, sự phát triển giữa thành thị và nông thôn; giữa những doanh nghiệp quy mô lớn và quy mô nhỏ; giữa xuất khẩu và ngành công nghiệp nội địa. Trong khi tiêu chuẩn sống của dân cư trong nước đã tăng lên đáng kể, thì những lợi ích lại chỉ được tập trung vào một số ít vùng.Và từ lúc mô hình phát triển trọng tâm vào tính hiệu quả được hỗ trợ rộng khắp, thì sự ưu đãi chỉ được dành cho một số ít những dự án công nghiệp định sẵn và chỉ tập trung trong phạm vi những vị trí đô thị đã lựa chọn. Dù cho những sự can thiệp khác nhau của chính phủ nhằm cảnh báo sự chênh lệch giữa các vùng đô thị và nông thôn đã được thể hiện trong suốt hai chục năm qua, thì kết quả vẫn là một ví dụ tiêu biểu cho “người giàu càng giàu hơn và người nghèo lại trở nên nghèo hơn”.

Chiến lược tập trung vào đô thị này đã gây ra sự sụp đổ nhanh chóng các cộng đồng nông thôn truyền thống. Phần đóng góp của nông lâm nghiệp trong tổng thể các ngành kinh tế đã từng bước suy giảm tới 3,1% GNI (Tổng thu nhập quốc dân) như là năm 2003, mặc dù phần đóng góp của những ngành có liên quan tới nông nghiệp - như là ngành chế biến nguyên liệu, ngành vận tải và phân phối, ngành dịch vụ và chế biến thực phẩm - đã đạt 14%. Tỷ lệ người già có tuổi 65 hoặc hơn ở các vùng nông thôn đã đạt 24% trong khi bình quân cả nước chỉ khoảng 9% trong năm 2005.

Tỷ lệ giữa các hộ gia đình nông thôn với tổng số hộ gia đình đã giảm xuống còn khoảng 7% trong năm 2005 trong khi nó đã đứng ở khoảng 28% trong năm 1980. Trong khi thu nhập hàng năm bình quân của các hộ gia đình nông thôn năm 2004 là 29.001.000won (khoảng 30,000USD), tăng 7,9% so với con số 26.878.000won năm 2003, thì tỷ lệ thu nhập của  hộ gia đình nông thôn so với thu nhập hộ gia đình thành thị đã thu hẹp bớt từ 120% năm 1984 xuống 79% năm 2004.

Hơn nữa, sự hoà chung vào Tổ chức Thương mại Thế giới -WTO và một số những thoả thuận song phương với Mỹ và Chilê đã làm chuyển biến nhanh chóng môi trường canh tác nhờ việc mở rộng nhanh chóng thị trường nông nghiệp và việc liên tục kéo giá nông sản xuống. Vì vậy, người nông dân đã rất lo lắng vì chính sách nông nghiệp cũ vốn chỉ tập trung vào sự gia tăng sản xuất dường như đã bộc lộ những hạn chế của nó. Cho nên, ngày nay, chính sách nông nghiệp của Hàn Quốc đang tập trung vào việc đẩy mạnh tính cạnh tranh thông qua nền kinh tế có quy mô tổ chức ra những sản phẩm an toàn và cao cấp. Nói cho cùng, Hàn Quốc đang lên kế hoạch nhằm chuyển biến những làng quê nông thôn thành những không gian mà ở đó con người có thể tham gia vào những hoạt động kinh tế khác nhau và có thể hưởng thụ cuộc sống.

III. Mở rộng chương trình Làng quê với Chủ đề Nông thôn:

Chính phủ đương nhiệm ở Hàn Quốc đã tung ra một chiến lược phát triển cân đối nhằm xoá bỏ những khoảng trống giữa các vùng đô thị và nông thôn bằng cách thúc đẩy sự phát triển khu vực nông thôn và các làng quê nông nghiệp và đánh bắt cá. Những chính sách chủ yếu (Lee, 2004) trong Quy hoạch vùng lãnh thổ quốc gia lần thứ tư sửa đổi (2000 đến 2020) cho việc phát triển các vùng nông thôn thì thứ nhất là đề ra hệ thống đổi mới vùng phù hợp với những vùng còn lạc hậu, thứ hai là, nâng tầm nông nghiệp và ngư nghiệp trở thành những ngành kinh tế mang nhiều giá trị, thứ ba là, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế nông thôn và phối kết những hỗ trợ ngành nghề, thứ tư là, cải thiện phúc lợi xã hội của dân cư nông thôn bằng cách cải thiện điều kiện cư trú và cuối cùng là, khuyến khích những sự giao lưu nông thôn-thành thị. Nói chung, quy hoạch lần thứ tư này đã đề xuất được rằng các vùng nông thôn phải được quan tâm như là không gian mới cho sản xuất, giải trí, sinh thái, và mục đích cư trú cho tất cả mọi người tại các khu vực thành thị và nông thôn trong khi môi trường tự nhiên vẫn được bảo tồn tốt (Kim, 2001).

Chính phủ hy vọng rằng phương cách phát triển mới cho các vùng nông thôn sẽ làm thay đổi một cách mạnh mẽ chất lượng cuộc sống không chỉ cho dân cư nông thôn mà còn cho cả con người thành thị. Như Douglass đã lưu ý (2000), nếu phương cách là để đạt đến sự thành công nào đó, thì điều cốt yếu là phải tạo những mối gắn kết nông thôn-thành thị mà nó sẽ giúp dàn xếp những tác nhân khác nhau của các hoạt động ngành nghề kinh tế nông thôn này. Chính phủ hy vọng rằng sự đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn sẽ được khơi dậy dựa trên việc xúc tiến các ngành nghề chế biến hàng hoá chủ yếu và ngành nghề giải trí và công nghiệp du lịch.

Hiện nay, du lịch nông thôn là một trong những lĩnh vực hứa hẹn nhất cho người nông dân Hàn Quốc nhằm bù đắp sự sút giảm thu nhập trong nông nghiệp của mình. Nó còn giúp mang lại cho nông nghiệp Hàn Quốc những chức năng rộng mở được tạo ra bởi những nhu cầu phát sinh từ những mối gắn kết nông thôn-thành thị. Phải công nhận một thực tế rằng, chính phủ Hàn Quốc đã có những nỗ lực đáng kể trong việc thực hiện chương trình mới này kể từ năm 2003, năm mà chính phủ đương nhiệm đề xuất quy hoạch nông nghiệp và nông thôn với khoản kinh phí 119nghìn triệu won (khoảng 119tỷ USD) trong suốt giai đoạn 10-năm từ 2004-2013.

Nhằm tăng cường những giao lưu nông thôn-thành thị, chính phủ đã thúc đẩy nhiều chương trình giao lưu nông thôn-thành thị khác nhau cùng với các hoạt động du lịch/giải trí như là những hoạt động kinh doanh xanh, những nông trại du lịch ở nông thôn, miền núi, và ven biển (Bảng 1), vẫn giới thiệu những chương trình du lịch nông thôn hiện nay với trọng tâm chỉ là thu hút người thành phố về các làng quê nông thôn. Được điều hành bởi các cấp Bộ và cơ quan khác nhau của Hàn Quốc, những chương trình giao lưu nông thôn-thành thị đã mang lại nhiều cơ hội cho cả người nông thôn và người thành thị.

Bảng 1. Các chương trình Làng quê với Chủ đề Nông thôn (Tour Sinh thái) ở Hàn Quốc năm 2006

Tên dự án

Mạng lưới thông tin các làng quê

Tour sinh thái các làng quê

Kinh nghiệm đánh bắt cá ở làng quê

Làng quê với chủ đề nông thôn

Làng quê với chủ đề miền núi

Đơn vị thực hiện

Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ

Bộ Nông Lâm nghiệp (MAF)

Bộ Hải vụ và Ngư nghiệp

Cơ quan quản lý Phát triển Nông thôn

Trung tâm Dịch vụ Lâm nghiệp Hàn Quốc

Mục tiêu

* Nhằm thúc đẩy triển khai thông tin vùng trong các cộng đồng nông thôn

* Nhằm gia tăng khả năng thu được lợi nhuận của các cộng đồng nông thôn thông qua quá trình thông tin.

* Nhằm cung cấp những chuyến tour về cộng đồng nông thôn và canh tác nông trại cho những người ở thành phố.

* Nhằm gia tăng thu nhập ngoài canh tác của các các cộng đồng canh tác nông trại.

* Nhằm cung cấp những chương trình đánh bắt cá thực hành bằng việc thiết lập những cơ sở tiện ích du lịch đánh bắt cá.

* Nhằm gia tăng những thu nhập ngoài đánh bắt cá.

* Nhằm tăng cường nét hấp dẫn của nông thôn thông qua sự hiểu biết và văn hoá nông thôn truyền thống.

* Nhằm tận dụng nguồn tài nguyên rừng để tạo thu nhập thêm.

* Nhằm thực hiện sự phát triển cân đối bằng cách cải thiện cảnh quan và điều kiện sống ở những vùng rừng núi.

Chương trình hành động

* Giảm bớt lỗ hổng thông tin.

* Tạo sức sống mới cho kinh tế vùng thông qua quá trình thông tin.

* Tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình tour sinh thái.

* Tạo lập những cơ sở tiện nghi chung cho chương trình du lịch sinh thái.

* Cải thiện cảnh quan những làng quê có tham gia.

* Cải thiện đường xá, cơ sở tiện nghi bến bãi đỗ, chiếu sáng, ....

* Xây dựng các trung tâm thông tin, điểm công cộng, chỗ cắm trại, ...

* Tạo lập những đặc tính riêng có của mỗi làng quê.

* Tạo lập các cơ sở tiện nghị cho những chương trình thực nghiệm.

* Yêu cầu trợ giúp chuyên gia cho việc triển khai chương trình.

* Tạo lập hệ thống phát triển hàng lâm sản.

* Tận dụng những đặc tính độc đáo của rừng núi; triển khai các chương trình tour thăm quan rừng.

Thời gian

2001-2012

2002-2013

2002-2009

2002-2009

1995-2007

Đơn vị

Làng

Làng

Làng /Khu tự trị

Làng

Làng

Số lượng làng

280 (39)

123

31

66

153

Chi phí/ đơn vị*

5 (hỗ trợ chính phủ 3,5)

2 (hỗ trợ chính phủ 50%)

5 (hỗ trợ chính phủ 50%)

2 (hỗ trợ chính phủ 50%)

14

Thời hạn

1năm

1năm

1năm

2năm

3năm

Tổng chi phí*

1.052

246

359

112

2.413

Nguồn: Văn phòng Điều phối Chính sách Chính phủ. Đánh giá các Chương trình Du lịch Sinh thái. (* = trăm triệu won Hàn Quốc, khoảng 105 nghìn USD)

Người thành thị có thể tham gia các hoạt động giải trí và trải nghiệm cuộc sống ở nông thôn, trong khi người nông thôn có thể kiếm được việc làm và tăng thêm thu nhập nhờ bán sản phẩm.

Dưới đây là những ví dụ về chương trình hành động chính được Bộ Nông-Lâm đề xuất (MAF, 2006).

1. Mở rộng các điều kiện về tour sinh thái nhằm thoả mãn nhu cầu khách lưu trú.

Sự phát triển của 32 ngôi làng có kinh nghiệm làm nông nghiệp sinh thái đã được đẩy mạnh trong năm 2004, và 1000 ngôi làng du lịch sinh thái (những ngôi làng có kinh nghiệm làm nông nghiệp sinh thái, những ngôi làng với chủ đề nông nghiệp truyền thống, ...) sẽ được triển khai tiếp vào khoảng 2013.

2. Huấn luyện chuyên môn để trở thành tiên phong trong du lịch sinh thái.

Phát triển đội ngũ người nghỉ hưu và nông dân đã chuyển hướng làm ăn thuộc những trình độ kinh nghiệm khác nhau, cùng với nguồn nhân lực tiềm năng của làng, thành những người lãnh đạo địa phương thông qua việc huấn luyện khoảng 800 ứng viên.

3. Tăng cường các hoạt động marketing và giao tế công chúng để tạo ra nhu cầu đối với tour sinh thái.

Xúc tiến quảng bá tour sinh thái để thu hút các bên liên quan như là các làng du lịch sinh thái, chính quyền địa phương, nhà hoạch định phát triển địa phương, và các công ty có liên quan đến tour quan tâm tới nhiều triển lãm khác nhau cũng như là việc giao tế công chúng về tour sinh thái tới các đối tượng người ở thành thị thông qua những hội thảo chuyên đề và những sự kiện.

4. Sắp xếp tổ chức trong việc tăng cường những giao lưu thành thị-nông thôn

Sự chuyển đổi Trung tâm Xúc tiến Đầu tư của Tổng công ty Cơ sở hạ tầng Nông nghiệp và Nông thôn Hàn Quốc (hiện là Tổng Công ty Đầu tư Nông thôn Hàn Quốc) thành Trung tâm Trao đổi Khu vực Nông thôn và Thành thị nhằm bao hàm đầy đủ nhiệm vụ về thoả thuận giao nhận, giáo dục, giao tế công chúng, ... của các làng du lịch nông thôn.

Cùng với những chính sách phát triển ở cấp độ địa phương này, MAF đã thông qua một quy hoạch tổng thể và xác định phát triển du lịch nông thôn là một trong những lựa chọn chính sách chính yếu của quy hoạch. Đây là bản quy hoạch đầy đủ đầu tiên của Hàn Quốc đặt trọng tâm vào tính bền vững. Quy hoạch nhằm xây dựng 1000 khu nông thôn với khoảng 3-5làng tạo thành một khu. Xấp xỉ 5 đến 7 làng mỗi thành phố/hạt sẽ được triển khai vào khoảng 2013. Trong khi hầu hết việc quy hoạch nông thôn đang đúng hơn là gắn liền với phúc lợi xã hội hay chính sách cân đối, thì quy hoạch này được dựa trên những quan điểm sự cạnh tranh và tính hiệu quả. Tổng ngân sách cho quy hoạch này là 7tỷ won (khoảng 5triệu USD) mỗi khu cho phát triển nông thôn.

IV. Đánh giá các Chính sách Làng quê với Chủ đề Nông thôn

1. Những mâu thuẫn từ việc nhân rộng nội dung chương trình:

Từ năm 2000, Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai nhiều chương trình làng quê với chủ đề nông thôn khác nhau nhằm tạo sinh khí mới cho nền kinh tế nông thôn ở Hàn Quốc. Mặc dù tiêu chuẩn sống đã cải thiện không ngừng cho những làng quê nông thôn tham gia chương trình, song vẫn còn đó những vấn đề về việc nhân rộng đầu tư và những mâu  thuẫn kéo theo của nó. Các chương trình làng quê với chủ đề nông thôn được các cấp Bộ có liên quan xúc tiến đã cho thấy sự tương đồng về nội dung và mục tiêu của chúng như được trình bày trên Bảng 1. Theo nghiên cứu của Văn phòng Điều phối Chính sách Chính phủ, có những sự chênh lệch đáng kể về tiền trợ cấp giữa các làng tham gia trong cùng các chương trình của các cấp Bộ khác nhau mặc dù điều kiện tự nhiên và địa lý như nhau. Nhận biết được những vấn đề này, MAF đã đề ra bộ “Hướng dẫn về sự Hoà nhập của các Chương trình Làng quê với Chủ đề Nông thôn”, mà thực tế đã trở nên thất bại trong việc điều phối vì thiếu những công cụ pháp lý ràng buộc được áp cho chương trình.

Về mặt nội dung, trong khi chương trình do Trung tâm Dịch vụ Lâm nghiệp Hàn Quốc dẫn dắt tập trung vào những cơ sở tiện nghi vật chất nhằm cải thiện thu nhập, thì những chương trình được các cấp Bộ khác xúc tiến cũng đề cập nhiều đến những cơ sở tiện nghi cho các tour thực nghiệm. Đặc biệt, các cơ quan thực thi khác nhau của MAF và Cơ quan quản lý Phát triển Nông thôn đã có những nội dung chương trình khá là tương đồng mà dễ gây ra sự nhầm lẫn và bất mãn trong nông dân là những đối tượng tham gia của mỗi chương trình.

2. Thiếu khâu quản lý hậu kiểm sau khi thực hiện

Mặc dù có một số các chương trình giáo dục khuyến khích phát triển nguồn lực con người cho những người nông dân tham gia thiết kế và thực hiện các khâu, thì chỉ số ít các cơ quan chính quyền đưa ra những chương trình quản lý sau khi thực hiện các chương trình về nông thôn. Không sự đánh giá nào về quản lý hậu chương trình thực hiện có thể cho thấy được những khó khăn để duy trì tình trạng mà chương trình đang đeo đuổi trên thực tế. Cũng còn đó nguy cơ về tình trạng lạc hậu khi các làng quê tham gia không thể trang trải việc bảo dưỡng cơ sở tiện nghi, hoặc khi có những thuyên chuyển về lực lượng chỉ đạo ở địa phương. MAF mới đây đã nhận thức được vấn đề và đã chuẩn bị một chương trình bổ sung dành cho nông dân nhằm đảm bảo sự quản lý thành công và liên tục cho các chương trình.

3. Tính bền vững của những địa phương tham gia

Còn quá sớm để đánh giá hiệu quả của chính sách; tuy nhiên, vẫn chẳng có một chỉ báo rõ ràng nào về sự gia tăng dân cư ở những làng quê đã đang tham gia vận hành chương trình. Hơn nữa, các chương trình còn kém thành công trong việc làm gia tăng thu nhập ngoài lĩnh vực canh tác cho những người nông dân tham gia. Điều có có thể được giải thích bằng việc chưa có đủ thời gian để minh chứng cho những kết quả ấy, tuy nhiên, cũng có thể được giải thích bằng tính nghèo nàn về nội dung chương trình và những sự tương đồng giữa các chương trình mà hậu quả là đã không thu hút được một cách liên tục những người ở thành thị. Cách đánh giá này khác với những công bố của chính phủ, vốn có vẻ chịu ảnh hưởng lớn hơn bởi sự khác nhau của các chỉ báo xuất phát từ tính không đồng nhất của các làng quê được lấy mẫu.

4. Khuynh hướng phụ thuộc vào trợ cấp chính phủ

Mục tiêu của các chương trình làng quê với chủ đề nông thôn có sự hứa hẹn ngầm định rằng các làng quê có thể giành được sự quản lý độc lập và tăng trưởng bền vững sau khi thực hiện chương trình. Tuy nhiên, khác với sự hứa hẹn, các địa phương tham gia đã thể hiện tính phụ thuộc sâu sắc vào sự hỗ trợ nhà nước cho dù ở những địa phương ấy việc thực hiện chương trình đã được MAF đánh giá là thành công.

5. Sự chênh lệch trong việc hỗ trợ các đơn vị và trợ cấp giữa các chương trình

Tất cả các cơ quan nhà nước mà tham gia vận hành các chương trình làng quê với chủ đề nông thôn đều lấy cấp độ làng như là một đơn vị phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế, sự hỗ trợ nhà nước trong một số chương trình có thể được giải ngân thành những khoản trợ cấp cho các cá nhân hay các hộ gia đình, mà điều này đã dẫn đến “người giàu càng giàu lên và người nghèo lại trở nên nghèo thêm”. Mức chênh lệch giải ngân giữa các chương trình có thể gây ra những mâu thuẫn khác giữa những người hưởng lợi là nông dân với nhau, và có khả năng gây ra sự nghi ngờ vào những chính sách chính phủ và sự bất hoà giữa những dân cư nông thôn.

V. Những đề xuất để cải tiến các chương trình phát triển nông thôn

1. Thống nhất những chương trình tương đồng

1.1. Bước 1: Điều phối chương trình giữa các cấp Bộ (ngắn hạn, 1năm)

Những chương trình phát triển nông thôn được các cấp Bộ thực thi không có được một nguyên tắc hướng dẫn chung để chương trình căn cứ thực hiện. Điều cần được kiến nghị là một trong số các cấp Bộ liên quan sẽ đề ra quy tắc căn bản theo những sự khác biệt và mục tiêu của chương trình. Văn phòng Điều phối Chính sách Chính phủ có thể được chọn là ứng viên cho nhiệm vụ này.

1.2. Bước 2: Sự hợp nhất trong cùng cấp về các chương trình làng quê du lịch sinh thái (ngắn hạn, 2-3năm)

Chương trình làng quê du lịch sinh thái là ví dụ cho sự lộn xộn các chương trình của các cơ quan khác nhau đề ra do sự thiếu tư vấn trước đó. Điều cần thiết là nhằm tái sắp xếp các chương trình được phân loại theo sự khác biệt và nội dung chương trình thông qua những chương trình hành động hiện tại của MAF. MAF là cơ quan điều hành các chương trình phát triển nông thôn khác nhau sẽ là ứng viên sáng giá cho nhiệm vụ này. Điều này cũng đúng với những chương trình của MAF và Cơ quan quản lý Phát triển Nông thôn.

1.3. Bước 3: Thống nhất lựa chọn và điều hành các chương trình phát triển nông thôn giữa các cấp Bộ (trung hạn, 4-5năm)

Các chương trình phát triển nông thôn hiện tại ở Hàn Quốc có đặc điểm là “hỗ trợ có tính nhân rộng” mà có thể gây ra tính bất hiệu quả trong việc trang trải ngân sách, và “hỗ trợ nhỏ giọt” mà thậm chí có thể làm yếu đi tiềm năng phát triển. Bởi các chương trình phát triển nông thôn thường khá là giống nhau về mục tiêu và nội dung chương trình, thì cách tốt nhất để có được thành công và hiệu quả cho chương trình có thể là phải thống nhất các chương trình thông qua các cấp Bộ và cơ quan quản lý. Tuy nhiên, hầu như là không thể hợp nhất một cách hoàn toàn các chương trình một cách rộng khắp do sự định hướng tư lợi của mỗi cấp Bộ suốt trong cả vài chục năm qua.

Theo đó, chúng tôi kiến nghị rằng cần phải ban bố một luật mới hay những luật có liên quan nhằm đảm bảo tính ổn định và hiệu quả của các chương trình phát triển nông thôn. Việc thành lập ra một uỷ ban nhà nước mà có thể kiểm soát được toàn bộ qui trình của các chương trình là sự ưu tiên hàng đầu nhằm ngăn chặn những vấn đề như là sự tràn lan, những mâu thuẫn và tính bất hiệu quả được đề cập ở trên. Luật đó cần chiểu theo những quy hoạch cấp cao hơn như là Quy hoạch Lãnh thổ Quốc gia lần thứ 4 và những chính sách chính phủ trung ương khác nhau như là NURI và RIS, là những chính sách đặc biệt cần thiết cho các chương trình phát triển nông thôn hiện nay.

2. Đảm bảo tính đa dạng của chương trình

Khía cạnh cầu về phát triển nông thôn cũng khá là đa dạng về mặt quy mô và về những đặc tính ngành và không gian. Đánh giá những lý do này, chúng tôi đề xuất rằng những nguyên tắc mang tính thủ tục phải được thông suốt trong tất cả các chương trình. Ba nguyên tắc cần đạt tới mà chúng tôi đề xuất là thứ nhất, phải củng cố năng lực của chính quyền địa phương thông qua “sự phân quyền”, thứ hai, phải thúc đẩy tính hiệu quả kinh tế thông qua “sự lựa chọn và tập trung” và thứ ba là đảm bảo “tính đa dạng”.

Quá trình lựa chọn và giải ngân cần được thực hiện theo trình tự các nguyên tắc được giải thích trước đó. Ngân sách có thể được giải ngân theo lộ trình là 5 đến 6trăm triệu won ở giai đoạn đầu, 10 đến 20trăm triệu won vào giai đoạn hai, và 50 đến 70trăm triệu won vào giai đoạn cuối. Chúng tôi kiến nghị rằng tổng con số các làng quê nông thôn trên cả nước sẽ được giới hạn với khoảng 3.000 vào giai đoạn đầu của qui trình lựa chọn.

Trong giai đoạn đầu, sẽ hiệu quả hơn nếu đa dạng hoá các chương trình bằng những hình thức hỗ trợ: chẳng hạn, dựa trên sản xuất nông nghiệp, dựa trên khai thác tour du lịch, và kết hợp cả hai theo “nguyên tắc về tính đa dạng”. Qúa trình đánh giá giai đoạn đầu cần đi trước các giai đoạn thứ hai và thứ ba theo khuynh hướng “nguyên tắc lựa chọn và tập trung”. Theo cách này, chúng ta có thể nhận diện những vùng nông thôn có triển vọng nhờ so sánh những việc hoàn thành mà có thể đảm bảo cho tính hiệu quả kinh tế. Do đó, cần kiến nghị giới hạn đặt ra đối với con số làng quê nông thôn tham gia: 3.000 làng cho việc thực hiện giai đoạn đầu và 2.000 làng cho giai đoạn hai và ba.

Đặc biệt trong những qui trình lựa chọn, điều mong muốn nhất rằng các chính quyền địa phương sẽ nắm vai trò trách nhiệm trong phần lớn các chương trình theo “nguyên tắc phân quyền”. Giả sử rằng có sự thiếu kém kinh nghiệm điều hành các chương trình, thì vẫn cần có sự chuyển giao quyền lực từng bước từ chính quyền trung ương tới các địa phương.

3. Điều chỉnh lại các chỉ báo hiệu suất của MAF và các Bộ liên quan

Việc đánh giá những việc hoàn thành của chương trình có thể thúc đẩy trách nhiệm của những người tham gia thực hiện các hoạt động của mình một cách hiệu quả hơn. Từ năm 2005, khi các chỉ báo hiệu suất của chương trình được đề ra, thì chính quyền trung ương đều đã đánh giá những thành tựu từng chương trình mỗi năm. Tuy nhiên, những chỉ báo hiệu suất của các cấp Bộ liên quan không còn phù hợp với mục tiêu ban đầu của chương trình phát triển nông thôn: đó là, tính bền vững trong ngành nông nghiệp và của các vùng nông thôn.

Trong các chỉ số hiệu suất hiện nay, thì không thấy có chỉ số trọng yếu như là “sự tăng/giảm dân số ở các vùng nông thôn”, “sự tăng/giảm thu nhập của nông dân”, và “mức thu nhập tính theo đầu tư”. Thay vào đó, chúng chỉ là những chỉ số như là “con số các làng tham gia”, “số lượng khách thăm quan”, và “việc bán sản phẩm” là những chỉ số không thể đem ra kiểm tra tính hiệu quả kinh tế của các chương trình.

Có nhiều trường hợp mà ở đó các làng quê nông thôn thành công được các cấp Bộ phổ biến nhân rộng, thực tế, lại không đúng theo những mục tiêu chính sách trọng yếu. Vì vậy, rất cần đưa ra những chỉ số hiệu suất để có thể đánh giá một cách chính xác những thành quả của mỗi chương trình. Điều này có thể nâng cao trách nhiệm của các cơ quan liên quan và các cán bộ nhà nước, đồng thời đáp ứng được những mục tiêu chính sách trọng yếu đặt ra của chương trình.

VI. Kết luận: Điểm lại những phán quyết có hiệu lực từ trước

Có hai cách để đánh giá những điều mà du lịch nông thôn Hàn Quốc mong muốn đạt được: một là cách bi quan và hai là cách lạc quan (hay chiều vơi và chiều đầy của cốc nước theo đúng từ glass-half-empty and glass-half-full way). Xét về tình hình hiện tại các chính sách làng quê với chủ đề nông thôn, thì chiến lược của Hàn Quốc đang ở thế nước đôi để có thể được hoà theo chiều hướng này hay chiều hướng khác. Thực sự, du lịch nông thôn cần được xem như có ích lợi xã hội cho không chỉ đối với các cộng đồng nông thôn mà còn đối với cả người dân thành phố, trên bình diện tính đa chức năng và tính chất cộng đồng tốt đẹp của ngành nông nghiệp. Các vùng nông thôn không độc quyền với ngành nông nghiệp nữa. Họ làm chức năng như những người gìn giữ chủ chốt những truyền thống, văn hoá, và môi trường. Về mặt này, các nhà hoạch định chính sách đều thừa nhận tầm quan trọng của du lịch nông thôn và quá trình công nghiệp hoá nông thôn như một giải pháp chọn lựa chính cho phát triển nông thôn ở Hàn Quốc.

Ghi nhận thực tế này, Bộ Nông Lâm (MAF) của Chính phủ trung ương Hàn Quốc đã tung ra chương trình du lịch nông thôn suốt hơn 20 năm qua. Chương trình này có tên gọi “chương trình nông trại du lịch” (tourist farm program) đã được Bộ Nông Lâm điều hành từ 1984 đến 2002 chủ yếu là sự hỗ trợ về các nông trại du lịch và các quán trọ nông trại. Tuy nhiên, theo đánh giá ở góc độ nhà quản lý của các trang trại du lịch và quán trọ nông trại do MAF thực hiện, thì có vẻ như chương trình không đạt được những mục tiêu chính sách, và thậm chí có thể đã đi chệch hướng. Nhiều trang trại du lịch vẫn chưa đem lại lợi nhuận, và một số trong đó đã rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính. Dường như những đóng góp của chúng cho nền kinh tế địa phương không lớn như đã hằng mong đợi.

Park và cộng sự (2002) đã khảo cứu chương trình nông trại du lịch cho mục đích phân loại những hàm ý chính sách trong quá trình thực hiện trước đó cũng như là đối với du lịch nông thôn trong thời gian tới. Nghiên cứu đã cho thấy rằng trong khi đã có tới 407 nông trại du lịch đến năm 1996, thì tính bền vững đã không ngừng bị mất đi ở nhiều nông trại, và chỉ còn được 222 nông trại du lịch còn lại đến năm 2001. Vì vậy, họ kết luận rằng hỗ trợ nhà nước cần phải được trực tiếp vào những hoạt động ở các vùng nông thôn với tính chất cộng đồng rõ rệt như là khuyếch trương và đào tạo các chủ nông trại, và xây dựng một mạng lưới thông tin, hơn là việc cung cấp tài chính trực tiếp cho cá thể nông dân. Park và cộng sự (2001) cũng đã lưu ý tầm quan trọng của sự cộng tác giữa nhà nước và tư nhân trong các chiến lược phát triển nông thôn ở Hàn Quốc. Không có sự cộng tác nhà nước và tư nhân trong việc thực hiện chương trình du lịch nông thôn, thì có thể sẽ khó có sự thành công cho những thực thể du lịch nông thôn nếu các ngành nhà nước độc quyền giám sát toàn bộ quá trình của chương trình.

Việc phát triển hay hoạch định về cơ bản đã được định hướng trước. Cụ thể trong trường hợp nông thôn Hàn Quốc với phương hướng đổi thay rõ rệt, điều thiết yếu để tạo lập nên chính sách phát triển trên cơ sở những dự đoán tương lai chính xác. Tuy nhiên, các chương trình hiện tại dường như không thể thực hiện được những kế hoạch chi tiết mà chính phủ đã đề ra. Đúng ra là, chúng ta đang e sợ việc lặp lại “10 năm thiệt hại kể từ Vòng đàm phán ” như Chung (2005) đã chỉ rõ. Theo kinh nghiệm có được trong suốt giai đoạn 10 năm từ khi bắt đầu những Vòng đàm phán Uruguay, thì chính phủ đã cố gắng đưa ra những chính sách định hướng theo thị trường, nhưng chúng vẫn chỉ lệch ra ngoài dòng chảy.

Nguyên tắc thường áp dụng trên thị trường là tập trung những nguồn lực hữu hạn sẵn có cho những nhân tố cơ hội tiềm năng làm tối đa hoá hiệu quả, hơn là bồi thường cho những thứ trở ngại. Vấn đề là chiều hướng chính vẫn chưa phải là chính sách phát triển nông thôn định hướng theo cơ chế thị trường, mà đang làm suy yếu chính sách nông thôn vì những phương cách tạm thời cho người dân nông thôn. Sẽ hữu ích hơn nhiều nếu như thông qua những chính sách gần gũi với cơ chế thị trường như là củng cố mối liên hệ giữa các vùng nông thôn và thành thị để lấy dòng vốn thành thị cho các vùng nông thôn. Phương châm cơ bản nhằm đẩy các vùng nông thôn Hàn Quốc thoát khỏi sự trống rỗng thảm hại của chúng và sự chênh lệch khá lớn về thu nhập là đẩy mạnh môi trường kinh doanh theo sát với cơ chế thị trường thông qua những chính sách phát triển nông thôn được hướng vào việc nâng cao tính cạnh tranh của nông thôn Hàn Quốc.

Trong tài liệu này, chúng tôi đã chỉ ra rằng công cuộc phát triển nông thôn ở Hàn Quốc hiện chưa bao giờ phụ thuộc nhiều đến như thế vào du lịch nông thôn vì các ngành nông nghiệp đang dần mất đi tầm quan trọng của chúng. Nếu chúng ta chấp nhận du lịch nông thôn như là một lực lượng kinh tế chính yếu để tái thiết nông thôn Hàn Quốc, thì các nhà hoạch định chính sách hay nhà làm công tác quy hoạch phải giữ cho mình ít nhất một điều rằng không được lặp lại những thất bại của các chương trình nông trại du lịch hay quán trọ du lịch của MAF. Du lịch nông thôn không cần phải được xem như là một đầu tàu hay nhà cung cấp những sự thu hút mà thay vào đó sẽ đáp ứng những cơ hội cung cấp phức hợp những sự thu hút, vì rất ít những sự thu hút về văn hoá/ di sản ở các vùng nông thôn có thể độc lập lôi kéo mọi người về vùng đó, như Gartner (2005) đã chỉ rõ. 

Điều khá sắc nét là đã nổi lên một hiện tượng mới cho thấy rằng đời sống nông thôn sẽ không hoàn toàn chệch ra khỏi bức tranh chung của Hàn Quốc. Thời gian gần đây, xu hướng lối sống thành thị đang dịch chuyển về những vùng nông thôn tăng lên nhằm tìm kiếm không khí trong lành và môi trường sống khoáng đãng. Nếu những điều này đang đi đúng hướng, thì quả đã có những cơ hội sáng lạn cho quá trình tái tạo sức sống mới ở nông thôn Hàn Quốc. Cũng cần phải có cả Chương trình có tính hệ thống về thiết kế, giám sát và theo dõi do các cơ quan triển khai quản lý, bao gồm các Hợp tác xã nông nghiệp và các cấp Bộ liên quan. Hơn nữa, chính quyền các địa phương cần nắm giữ vai trò tiên phong để thiết lập sự cộng tác khu vực đối với những chương trình giao lưu nông thôn-thành thị. Trên hết, Chính phủ cần có cả một nhãn quan lâu dài về nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn vì chúng ta phải dự kiến đến hàng loạt những khó khăn trong quá trình phát triển du lịch nông thôn nhằm trở thành một chiến lược tái tạo sức sống cho nền kinh tế nông thôn của chúng ta trong một kế hoạch ngắn hạn.

(Tài liệu dịch bởi Chương trình Thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường năm 2008 - Người dịch Đỗ Doãn Đạt)

Các tin khác
 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam