Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
Bò sữa
Dê sữa
Thỏ
Đà điểu
Thảo dược
Rau
Dứa
Nước khoáng
Chè đồi
Măng
Ong
Bò bê, trâu
Hoa và quả
Mía và Bánh kẹo
Lúa ngô khoai sắn
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
14 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
LÚA NGÔ KHOAI SẮN
Sản vật với Phong tục dân tộc Mường cổ xưa xung quanh chân núi Ba Vì (xã Vân Hoà)

   

Xã Vân Hoà ngày xưa được gọi là Xã Vân Mộng, thuộc Tổng Mỹ Khê, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây.

Cư dân người Mường xưa gốc là người Mường Hoà Bình (Mường Bi – Tân Lạc) đến khai hoang lập trại khoảng 750 – 800 năm trước, nên có câu cổ truyền xưa của người Hoà Bình gọi cư dân vùng chân núi Tản là người Mường Trại.

Người Mường thường chọn những nơi cao ráo bằng phẳng gần dòng suối, lưng dựa vào núi tạo thành những xóm nhỏ quần tụ gần nhau. Cuộc sống làm ruộng và phát nương rẫy trồng lúa nước theo ruộng bậc thang thấp, chăn nuôi trâu, lợn, gà, vịt, v.v..

Cư dân thời kỳ trước 1945 địa danh của xã Vân Hoà bao gồm 100% là người Mường là những làng sau đây:

- Làng Rùa gồm 3 xóm có 18 – 20 hộ

- Làng Mường có 3 xóm

- Làng Ấp Phú có 2 xóm

- Làng Gốc Đa có 2 xóm

- Làng Đồng Vàng

- Làng Bặn

- Làng Bơn

- Làng Xoan

- Làng Nghe

Tất cả người Mường xưa đều ở nhà sàn. Nhà sàn người Mường cột làm gỗ lợp tranh, lát mặt sàn bằng bương và xung quanh tre nứa. Nhà người Mường thường cấu trúc 7 hoặc 9 cái thang lên nhà, dưới chân cầu thang để một cái mộc trạn để rửa chân xong mới được lên nhà. Nhà cấu trúc 3 gian, gian giữa có giường thờ tổ tiên, gian cạnh bên trái là gian tiếp khách, gian bên phải ngăn đôi dành cho cô dâu và bếp nấu ăn, cuối là một sàn tầm 4m2 vại nước sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra một cái sàn ngoài trời lát bằng vầu rộng khoảng 12m2 để phơi lúa và nông sản. Bên cạnh nhà ở người Mường còn làm một cái kho người Mường gọi là cái Lậm (hoặc là cái Tụn) để lúa cả lượm phơi khô ngoài đồng. Lúa nào ăn thì vò bằng đôi chân hoặc cho vào cái pộng để giã. Tục làng Mường xưa không được phép đào giếng nên cả làng có 1 – 2 giếng, nhưng thực ra mạch nước chảy từ lòng núi ra, dùng cây u hoặc bương to cắt tầm 2m đục đốt để lại đốt cuối để làm phương tiện vác nước. Nhìn vào ống vác nước nhiều hay ít ta đánh giá được nhân khẩu ít hay đông. Người Mường xưa làm chuồng trâu dưới gầm sàn kể cả chuồng lợn và chuồng gà để chống kẻ trộm và thú rừng.

Dưới đất bên trái nhà sàn thường đặt một cái cối giã gạo bằng chân (người Mường gọi là cối máy), một cối xay dăm xay bằng sức người. Ngoài giã gạo bằng chân và tay, người Mường biết lợi dụng dòng nước để làm cối giã gạo bằng nước.

Người Mường xưa còn biết làm nhiều loại bẫy đi bắt thú rừng và đan các loại đồ dùng để bắt cá, đặc biệt người Mường xưa xếp đá thành từng đống ở dưới nước để bắt cá.

Phong tục người Mường xưa nếu có khách thì vay rượu vay gà để tiếp khách.

Nét đặc biệt người Mường xưa con trai, con gái đến tuổi trưởng thành hay nhuộm răng đen.

Phụ nữ thường hay mặc váy áo cóm (áo ngắn), váy thường có cổ hoa văn và quấn khố xanh, đỏ, tím, vàng và đeo một bộ xà tích bằng bạc, đầu đội khăn vuông đỏ hoặc đen, tay đeo vòng bạc từ 1 đến 2 đôi và 1 bộ vòng cổ.

Đàn ông ăn mặc quần 2 ống, mặc áo tứ thân, đầu quấn khăn đôi non.

Về văn hoá, người Mường thời phong kiến ít người biết chữ, ví dụ phụ nữ cấm không được đi học chỉ có những nhà khá giả thì con mới được đi học chữ Hán, chiếm đến 90% mù chữ, vì xã hội lúc bấy giờ không chú trọng đến trường và thầy, đường xá hẻo lánh, dân cư thưa thớt nên người Mường xưa quá lạc hậu. Có ốm đau chủ yếu là đón thầy cúng và thầy mo cho nên nhiều người chết oan vì tin vào thầy cúng.

Người Mường có 6 Tết nhỏ và 1 Tết lớn, đó là: 15 tháng giêng, 3 tháng 3 âm lịch, 5 tháng 5 âm lịch, 15 tháng 7 âm lịch, 15 tháng 8 âm lịch, 10 tháng 10 âm lịch và Tết nguyên đán.

Tết nguyên đán là một cái Tết long trọng nhất, người Mường thịt lợn, gói bánh trưng, cắm nêu trước nhà. Sắm gậy mía cho ông vãi, mọi người đi chúc tết và mở hội Séc Bùa (Đánh cồng), đội cồng có trai gái ăn mặc chỉnh tề đi đến từng nhà để chúc tết. Séc Bùa nam nữ hát đôi ca bằng tiếng Mường thâu đêm suốt sáng.

Về lễ hội, làng Rùa xưa có một cái đình lợp bằng tranh rộng 3 gian, thờ ông Tản Viên Sơn, có 3 vị ngai, có 2 bức đại tự, 6 câu đối, 2 cây nến bằng chì, 2 cây đèn bằng gỗ, nhanh nội, các đô thờ rước từ trên thượng Ba Vì. Đền Thượng không rõ xây dựng bao giờ nhưng không có ai trông nom hỏng nát nên làng Rùa xin về làng để thờ. Hàng năm lễ hội 15 tháng giêng đến 17 tháng giêng (6 lá cờ, 2 cái long). Trong một năm có 3 lễ: tháng 3 lễ hạ điền, tháng 7 lễ thượng điền, tháng 10 lễ thượng Tản - lễ xôi mới. Có tế lễ, có lễ hội tổ chức vui như thi đấu vật, chọi gà, đánh cồng, ném còn từ năm 1945 trở về trước có lễ hội này.

Phong tục ma chay, người Mường xưa khi trong gia đình có cha già mẹ héo thì phải báo ông thủ chỉ trong làng và báo cho chức dịch trong xã sau đó gia đình mới được phát tang. Gia đình đón ông thầy mo về để cúng cơm, trước tiên ông thầy mo cúng bố mẹ bên âm (đã khuất), các con trai phải đội mũ rơm, quấn bẹ chuối, chống gậy, riêng con trưởng thắt vỏ dao tang bố hoặc mẹ. Tục người Mường làm nhà táng cho người mất và con trưởng phải lạy người làng đến viếng trong suốt thời gian mai táng. Tục lễ mai táng của người Mường bao gồm: làm giỗ 3 ngày, 10 ngày, 1 tháng, 100 ngày giỗ đầu, 3 năm 3 tháng 10 ngày thì mãn tang, gia đình làm đồ hàng mã chia của người đã mất như trâu, bò, chó, lợn, gà, mèo, v.v.. cày, bừa, cuốc, xẻng, v.v.. Khi cúng mãn tang phải mời ông mo cởi dải tang, lúc đó mới được gọi là hết tang người mất. Và khi đó con trai con gái mới được đi xây dựng gia đình.

Tục lễ cưới hỏi xưa: Thời phong kiến trai, gái người Mường không được tìm  hiểu nhau, hoàn toàn do quyền cha mẹ quyết định.

- Bước 1 là chạm ngõ: phải có quà bánh, người Mường thường hay gói bánh ốc còn gọi là bánh 3 góc, 1 chai rượu.

- Bước 2 lễ ăn hỏi: 1 buồng cau trên dưới 100 quả, 30 lá trầu, 12 cái bánh dày, 30 cái bánh gai, 4 cầu bánh khảo, 2 chai rượu, 1 đôi vòng tay, nếu không có vòng thay thế bằng tiền mặt là 2 đồng bạc trắng thì nhà gái mới nhận lễ hỏi.

Tục lễ cưới nhà gái thách cưới là con trâu, nghé sấn sẹo (trâu, nghé được xỏ mũi bằng dây để dắt đi), tiền lễ từ 3 – 4 chục đồng bạc, gạo 4 thúng, lợn khoán khúc từ 1 – 2 khúc, rượu 40 chai, một cái lễ gọi là lễ nòm hẹn phải có 10 mâm cả cơm, rượu, thịt. Còn nếu con gái có bố là quan viên hoặc là điền anh ở làng hay trông coi đình thì dân phải nộp làng 5 đồng bạc mới được cưới.

Một lễ mở cửa cho cô dâu gồm 10 đấu gạo, 2 chai rượu, 2 đồng bạc trắng.

Tục lệ nhà trai đi đón dâu, khi đi hiệu lệnh là phải đánh cồng. Nhà trai đi đón dâu chú rể mặc quần áo chỉnh tề, mặc áo dài trong trắng ngoài đen, quần trắng, đầu quấn khăn lượt hoặc khăn xếp, đầu đội nón dứa. Có ông mối (hoặc bà), 2 phụ nữ ăn mặc đẹp đi đón dâu, cùng nhiều thanh niên đi đón dâu. Khi đến nhà gái thì chị em phụ nữ đóng cửa chưa cho vào nhà hỏi, có lễ mở cửa thì mới được đón cô dâu.

Khi hoàn tất đám cưới xong nhà trai phải đi đón 3 lần thì cô dâu mới được ở hẳn bên nhà chồng.

(…Còn tiếp)

Theo ông Trịnh Võng Đức, sinh năm 1920

Là người dân tộc Mường, xã Vân Hoà

Tháng 11/2008

 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam