Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Báo chí
Du lịch nông nghiệp
Khoa học
Đoàn khách
Lịch sử sản vật
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
21 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
KHOA HỌC
HẬU QUẢ CỦA SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

GS Phạm Văn Hường

Giáo sư Phạm Văn Hường, Giám đốc nghiên cứu tại Đại học Bordeaux, Pháp, cũng là người được bầu vào Hàn lâm Viện Khoa học New York (elected member, The New York Academy of Sciences), đã giải thích vì sao Hội nghị Copenhagen thất bại; hôm nay, giáo sư Phạm Văn Hường có nhã ý nhận lời mời của chúng tôi và trình bày về những hậu quả trên môi trường và sinh thái ở Việt Nam. Tác giả nhân dịp cũng đưa ra những giải pháp thích ứng cho lãnh thổ nước ta.
Hội nghị về thay đổi khí hậu đã thất bại vì có nhiều nước tham dự, đến Copenhagen chơi những ván bài mà họ không lật lên những con bài của họ.

Tuy có nhiều sơ hở, nhưng các hội đoàn liên chính phủ cũng có đưa ra nhiều tường trình khi họ muốn đưa ra, hay khi không bị kiểm duyệt bởi những chính phủ đã thuê họ cùng phản ảnh lại nhiều yếu tố thực tế có thể dùng để phân tích tình thế hiện tại và suy đoán những biện pháp trong tương lai.

 

HẬU QUẢ

Sự thay đổi khí hậu vì hâm nóng mặt đất là một biến đổi chậm. Phần đông nhân loại có khả năng ứng hợp với những trạng thái mới.

Trừ một số ít nước được hưởng lợi như Mongolia được thêm đất có cỏ cho chăn nuôi ở những vùng cao nguyên mà trước đây đầy tuyết phủ.

Phần lớn các dân tộc phải di dân đến những vùng đất lành, khi đất cứ đắm chìm trong nước biển. Nông dân ở đồng quê, nếu ở lại phải thay đổi cách dẫn thủy nhập điền. Người dân canh nông cần đổi nơi có thức ăn cho súc vật       

Ngay sinh thái thảo mộc cũng sẽ đổi thay, vì nhiều loại cây sẽ triển khai tốt theo một khí hậu.

Trong các bản tường trình cho Hội nghị Copenhagen, như IPCC, Intergovernmental Panel on Climate Change, có bốn địa phương sẽ bị hậu quả nặng nề nhất thế giới khi nước đại dương tăng cao và khi sóng triều bất thường sẽ xảy đến mà đồng bằng sông Cửu Long là một.

Khi mặt nước Biển Việt Nam (nên bỏ chữ Biển Đông, không ai dùng trên quốc tế) dâng lên 2 m hay 4 m cuối thế kỷ 21, như tiên đoán trong tất cả các mô thuyết trong hồ sơ Hội nghị Copenhagen, những vùng ngập ở đồng bằng sông Hồng khá trầm trọng (hình). Đồng bằng sông Cửu Long lại càng thảm họa hơn (hình). Miền Trung chịu ảnh hưởng tương đối ít.

Mức nước ngoài biển Việt Nam sẽ dâng cao lên, một phần vì sự lở nhanh các băng hà gần Nam và Bắc cực. Ngoài đó còn có sự giãn nở của nước đại dương khi nhiệt độ nước biển tăng. Thêm nữa, những biến thái do những dòng đối lưu trong biển không có lợi cho Việt Nam.

Hiệu ứng nhà gương trên khí quyển Việt Nam tuy có nhưng không đáng kể so với các quốc gia lớn khi họ thải trên 90% khí hơi nhà gương và hạt nước lỏng qua những kỹ nghệ hàng không và kỹ nghệ hạt nhân đã phát ra vô số hạt nước lỏng khi dùng nước để làm nguội lò.

 

BIỆN PHÁP KHÓ THICH HợP 

Trung tâm hay lò hạt nhân phát điện. Tuy không xả CO2, nhưng xả những hạt nước lỏng, trách nhiệm đến mấy ngàn lần so với hơi CO2 trong hiệu ứng nhà gương.

 Xây một lò hạt nhân trên lãnh thổ có thể là gây nổ một trái bom hạt nhân quá trình tiềm tàng của nó.

Bán một lò hạt nhân cũng như một máy bay quân sư. có thể nàm trong chiến lựơc giữa quốc gia và quốc gia , người bán có thể chen vào lò những linh kiện ngầm, và cho lệnh tác động khi cần, qua các vệ tinh.

Một phi cơ có người hay không người có thể dội một mào khai nổ, biến trung tâm thành một trái bom hạt nhân. Một đồ chơi như máy bay con rô bô, cũng có thể khởi nổ như thế! Một pháo tiễn không cần đạt kỹ thuật mang đầu hạt nhân, chỉ nổ nơi đích cũng có thể dùng để khơi nổ một lò hạt nhân. Thế là chưa kể những sơ hở lỗi lầm trong sự quản lý một lò hạt nhân. Ví dụ Tchernobyl gần đây là một chứng minh điều này. Lẽ tất nhiên không nên quên mây trắng của các hạt nước lỏng xả khi làm nguội lòng lò; và tăng thêm hiệu ứng nhà gương trên khí quyển.

Chưa kể chính sách làm giàu cho những công ty đã và đang bán nhiên liệu hạt nhân ngày này qua ngày nọ.

Xe động cơ điện là một giải pháp, có giá trị khi dòng điện ở những quốc gia có điện sản xuất bằng những phương pháp không xả khí thải nhà gương như địa nhiệt, thủy điện, điện gió. Nếu xe chạy với điện hạt nhân thì lại luẩn quẩn rơi vào vòng thải nước hạt tai hại của các trung tâm, vì những mây trắng cho góc trời.

Về năng lượng nói chung: Nên tránh những đề nghị quốc tế sai lầm hoặc không thích ứng với xã hội, sinh thái và môi trường Việt Nam.

Đắp đê như ở Hà Lan là một giải pháp. Nhưng khi tôi đi xem xứ này, thấy khác hẳn hoàn cảnh Việt Nam. Ở Hoà Lan, những đê nối liền hai nơi đất cao, không nơi nào dài hơn 30 km. Trái lại đồng bằng các sông lớn ở Việt Nam, ven bờ gần như vô biên mới dính mỏm đất cao. Như thế nghĩa là đê phải dài trên mấy trăm cây số.

Về núi rừng Việt Nam đã thừa hưởng các cuộc chiến tranh, sự trang rãi các độc tố. Ngoài dioxin ra còn có “quat” và “paradiquat” góp phần trực tiếp phá sức khỏe người dân qua sự hư phổi và tổn thương não. Như vậy có nghĩa là việc giải độc ở các vùng này là giải pháp khẩn cấp hơn những giải pháp khác.

Cũng như thế, về nuôi cá, ảnh hưởng nước dâng và đất lở loại ra độc tố phá rừng trong những ngày chiến tranh, đã được lắng dần trong ba mươi năm qua, nay lại thấm ngược lên trên mặt.

Hiện tượng lở đất: Khi phù sa bồi dần mặt đất tiếp nước vì bồi dần nên cứng. Khi nước lên cao, nước thấm vào đất bên trong, không bền như đất mới bồi, nên sinh ra lở đất. Đất lở lại là cơ hội cho nước ào ạt tiến vào, gây nên thảm họa.

GIẢI PHÁP VIỆT NAM

Có những giải pháp có sẵn ở Việt Nam trong quá khứ, nên khuyến khích dùng lại.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, có loại lúa nổi, lớn lên với mức nước. Trong khi chọn giống hay ghép giống để tăng năng suất, nên dùng lúa nổi. Điều này sẽ làm gương cho nhiều nước trên toàn cầu, khi mức nước biển dâng lên.

Ngày xưa, nhất là ở các vùng Nam Trung Bộ, người dân trồng cây rù rì để giữ đất, vì rễ mọc rất nhiều và rất nhanh.

Ngoài ra nên khuyến khích trồng những thứ cây có khả năng ứng hợp cao, như cây cọ dừa, ca cao, quả kiwi,  v.v... Cây cọ dừa sống rất dễ ở nhiều nơi có khí hậu khác nhau lại có thể dùng trong sự điều chế thức ăn, dầu và xăng sinh. Quả kiwi rất nhiều sinh tố.

Ca cao cũng có nhiều khả năng ứng hợp được dùng nhiều trong sự sản xuất chocola, xuất cảng tốt nhưng sẽ gây ra tục ăn nhiều, sinh hại.

Nên khuyến khích những cây nên thuốc như: hồng sâm, hoàng sâm. Tôi có thăm viện nghiên cứu về sâm ở Hàn Quốc. Họ nói có thể trồng ở Việt Nam chỉ cần tạo nên nhiệt độ, ẩm thấp và ánh sáng thích nghi, hồng sâm có thể mọc, 4 hay 5 năm là thu lượm được.

Cây thanh hao, trồng được ở nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam. Thanh hao đưa đến thuốc chống sốt rét rất công hiệu. có tương lai lớn trong những chiến dịch “bán thuốc cho người không bệnh”, biết rằng khi có một người có bệnh, thì có ít nhất mười người không có bệnh, kéo theo một thị trường 10 lần quan trọng hơn thuốc cho người có bệnh. Cây thanh hao, tuy hiện nay rất ít được trồng, nhưng có thể ứng hợp với rất nhiều khí hậu.

Những giải pháp này nên triển khai, thay vì ngồi chờ ăn xin những hỗ trợ ngoại lai.

Sự di dân không tránh khỏi. Như vậy phải xây cất trong những vùng đât cao, thay vì sửa sang những xóm xưa hay những tòa nhà thuộc địa (nhục nhã) thường hay gặp ở những vùng đất thấp.

Triển khai hải cảng có mỏm bao bền cứng, như cảng Chân Mây ở Thừa Thiên hay Cam Ranh.

Tóm lại

Tuy sự thay đổi khí hậu là một biến đổi chậm, nhưng khả năng dần dân ứng hợp của con người không đủ để chống cự với hậu quả tuy xa nhưng không xa lắm. Nguyên nhân chính của những tai hại này là do người tạo ra, thì hy vọng con người sẽ ý thức và cố gắng hy sinh một phần lợi ích kinh tế thiển cận mong cứu nhân loại lâu dài trong tương lai.
 

Phạm Văn Hường

 Đồng bằng Bằc Bộ khi nước sẽ cao thêm 2 m và 4 m, ngập đến nhiều nơi gần thành phố 

 

 

 

 Đồng bằng Nam Bộ khi nước sẽ cao thêm 2 m và 4 m , ngập đến nhiều nơi gần thành phố

 

 

 

Tóm lại 
Tuy sự thay đổi khí hậu là một biến đổi chậm, nhưng khả năng dần dân ứng hợp của con người không đủ để chống cự với hậu quả tuy xa nhưng không xa lắm. Nguyên nhân chính của những tai hại này là do người tạo ra, thì hy vọng con người sẽ ý thức và cố gắng hy sinh một phần lợi ích kinh tế thiển cận mong cứu nhân loại lâu dài trong tương lai.
 
Phạm Văn Hường

Leg
Mức nước biển từ năm 1993 đến năm 2003. Màu đỏ là nước dâng cao biển Việt : lên trung bình 7 mm mỗi năm. Từ năm 2003 nước lên rất nhanh hơn
Những mô thuyết dự đoán tăng nhiệt độ từ 1,8oC đến 3,4oC khoảng cuối thế kỷ
21

Các tin khác
 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam