Trang chủ
GIỚI THIỆU
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
SẢN VẬT
NÔNG TRẠI & NÔNG HỘ
CHÙM ẢNH
SỰ KIỆN
TOUR ĐỒNG QUÊ
THÔNG TIN
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN PHẢN HỒI
LIÊN KẾT

Ngày truy cập:
21 tháng 11, 2018
Số lượt truy cập
819497
 
 
 
 
Ý KIẾN CHO DIỄN ĐÀN
XÂY DỰNG CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT BA VÌ, HÀ NỘI .TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN HIỆN THỰC

XÂY DỰNG CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT BA VÌ, HÀ NỘI –

TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN HIỆN THỰC

Tạ Hòa Phương, Đặng Văn Bào, Trần Trí Dõi, Trần Đức Thanh,

 

Vũ Văn Tích, Bùi Văn Đông

 

* Đại học Quốc gia Hà Nộj

Mở Đầu :

            Xây dựng công viên địa chất và các hình loại di sản địa chất khác đối với nước ta hiện nay còn là một công việc mới mẻ. Tuy nhiên, khó đánh giá được hết ý nghĩa và hiệu quả của công tác này đối với việc bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.

 

Bài viết nhỏ này nhằm giới thiệu khái quát khái niệm Công viên địa chất và ý tưởng xây dựng Công viên địa chất Ba Vì, Hà Nội.

 

 

1. Khái niệm Công viên địa chất

 

Khái niệm Công viên địa chất (Geopark) được phát triển từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu từ các nước châu Âu. Khoảng trên chục năm trước đây, UNESCO đã nhận được rất nhiều thông tin từ các viện nghiên cứu địa chất, từ các nhà khoa học, từ các tổ chức chính phủ cũng như phi chính phủ về việc khởi thảo một chương trình toàn cầu về các khu di sản địa chất mà ở thời đó mới chỉ được thừa nhận ở cấp quốc gia của một số nước châu Âu và Bắc Mỹ. Sau một thời gian tham vấn và chuẩn bị, ban Các khoa học Trái đất của UNESCO đã đưa ra “Chương trình Công viên địa chất”. Sau đó, từ năm 1999, Ban điều hành của UNESCO đã thảo luận cách thức triển khai vận hành và đi tới kết luận cuối cùng vào tháng 6 năm 2001 đánh dấu sự ra đời của chương trình Công viên địa chất.

 

Chương trình công viên địa chất của UNESCO có mục tiêu tích hợp việc bảo vệ và bảo tồn các di sản địa chất với việc phát triển bền vững kinh tế và tài nguyên. Với mục tiêu như vậy, chương trình Công viên địa chất được gắn liền với chương trình Con người và sinh quyển (MAB) của UNESCO. Chương trình Công viên địa chất cũng được xem như là một phần bổ sung cho danh mục di sản thiên nhiên thế giới. Nó cung cấp một phương thức thích hợp cho việc lựa chọn và công nhận Công viên địa chất ở cấp Quốc gia và Quốc tế. Nếu như đối với Di sản thiên nhiên thế giới, mục tiêu bảo vệ và bảo tồn được đặt lên hàng đầu thì giờ đây, với sự ra đời của chương trình “Công viên địa chất” mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch bền vững đã được tích hợp hài hòa với mục tiêu bảo tồn. Tiếp bước các hoạt động của chương trình, tại hội nghị địa chất Quốc tế tổ chức tại Brazil, nhiều báo cáo khoa học về Công viên địa chất và bảo tồn di sản địa chất đã được trình bày. Có thể coi đó là những tiền đề cho sự thành công của hội nghị quốc tế về Công viên địa chất được tổ chức lần đầu tiên ở Bắc Kinh Trung Quốc vào tháng 6-2004. Trong hội nghị đầu tiên này người ta đã đi đến nhất trí tổ chức Hội nghị quốc tề về Công viên địa chất 2 năm một lần. Lần thứ hai, hội nghị được tổ chức ở Belfast Bắc Ailen từ 17 đến 21 tháng 9-2006.

 

Theo định nghĩa của UNESCO Geopark là: “Một vùng có giới hạn xác định, có một hoặc một vài tầm quan trọng khoa học, không chỉ riêng về địa chất, mà còn cả các giá trị độc đáo về văn hoá, sinh thái và khảo cổ học”. Quan niệm công viên địa chất của UNESCO thừa nhận mối quan hệ giữa con người - địa chất và khả năng sử dụng khu di sản cho phát triển kinh tế bền vững.

 

Theo TS. Wolgang Eder, giám đốc Ban Các khoa học Trái đất của UNESCO, thì tầm quan trọng của quy mô và chức năng của một công viên địa chất thể hiện ở các nội dung sau:

 

a) Công viên địa chất phải thể hiện một cảnh quan có kích thước và quy mô đủ lớn để tạo ra hoạt động kinh tế du lịch có hiệu quả. Các vết lộ nhỏ lẻ, rời rạc kể cả có giá trị về mặt khoa học cũng không thể tạo thành công viên địa chất.

 

b) Một công viên địa chất cần phải tập hợp một số danh thắng địa chất (geosites) đủ để minh họa các đặc điểm địa chất chính yếu. Tập hợp các danh thắng như vậy phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển các hoạt động du lịch địa chất.

 

c) Công viên địa chất ngoài việc cần phải có một số các danh thắng đặc biệt về cổ sinh, về địa chất, có tính độc đáo và thẩm mỹ cao, còn phải có các giá trị về khảo cổ, sinh thái, lịch sử và văn hóa.

 

d) Các vùng có giá trị đặc biệt về di sản địa chất nhưng không có cư dân sinh sống hoặc quá xa xôi, hẻo lánh không phục vụ phát triển kinh tế được thì cũng không thích hợp cho việc xây dựng công viên địa chất. Như vậy khái niệm về Công viên địa chất đòi hỏi phải liên kết giữa con người với địa chất và hoạt động kinh tế.

 

e) Công viên địa chất còn phải có chức năng phục vụ cho công tác giáo dục môi trường, thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học Trái đất, tăng cường việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

 

Như vậy, ngoài các tiêu chuẩn về mặt khoa học, một công viên địa chất cần đảm bảo các tiêu chuẩn: kích cỡ và môi trường; quản lý và liên kết địa phương; phát triển kinh tế (bền vững), giáo dục, bảo vệ và bảo tồn.

 

Trong khuôn khổ của chương trình Công viên địa chất của UNESCO, mạng lưới Công viên Địa chất Quốc tế (INOG) được thành lập từ năm 1998. Cho đến năm 2010, với sự công nhận Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang của Việt Nam, đã có 77 Công viên địa chất thuộc 24 quốc gia tham gia vào mạng lưới đó.

 

Các nước trong khu vực cũng rất chú trọng nghiên cứu và đánh giá di sản địa chất với tư cách là tài nguyên địa chất quốc gia đầy tiềm năng. Các hoạt động bảo tồn di sản địa chất đã được thực hiện tốt tại Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông. Tại Malaysia, di sản và kỳ quan địa chất là nội dung được quan tâm từ những năm 1976 - 1980, đến nay đã có trên 400 di sản địa chất được xác định, trong đó có 54 di sản đã được mô tả và đánh giá. Đảo Langkawi được công nhận là Công viên địa chất quốc tế đầu tiên của Đông Nam Á, đã mang lại lợi ích rất lớn cho du lịch nước này. Thái Lan cũng có những hoạt động điều tra, đánh giá một số danh thắng địa chất để đề nghị bảo tồn và một số đã được sử dụng làm Công viên địa chất quốc gia.

 

Việc nhất thể hoá bảo tồn địa chất với du lịch đảm bảo bảo tồn được các đặc tính di sản độc đáo, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và tăng cường phát triển kinh tế địa phương dựa trên du lịch địa chất (geotourism). Nhiều di sản địa chất rất có giá trị cho du lịch, đặc biệt là du lịch kết hợp giáo dục. Một số khu còn thích hợp cho hoạt động giải trí có thể mang lại lợi ích kinh tế cao, đồng thời đảm bảo tính bền vững cho sự bảo tồn.

 

Có thể nói, mặc dù chương trình công viên địa chất của UNESCO và mạng lưới công viên địa chất toàn cầu mới hình thành nhưng đã thu hút được nhiều quốc gia tham gia và đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học địa chất theo hướng phục vụ, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên địa chất. Xu thế này đã và đang tiếp tục phát triển

 

 

2. Ý tưởng và cơ sở xây dựng Công viên địa chất Ba Vì, Hà Nội

 

Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội vùng Ba Vì có nét độc đáo, quyến rũ, từ xa xưa đã được coi như một vùng đất mang hồn thiêng sông núi.

 

Trong Hồ sơ “Điều tra nghiên cứu các di sản địa chất…” của Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), ý tưởng xây dựng Công viên địa chất Ba Vì đã được đề cập đến. Ý tưởng đó gắn liền với công tác đào tạo đại học và sau đại học của trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Trường Đại học Xã hội và nhân văn, với hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và phát triển đô thị đại học của Đại học Quốc gia Hà Nội có cơ sở tọa lạc ngay trong vùng núi Ba Vì. Hằng năm, Trung tâm này đón hằng trăm lượt sinh viên của Đại học Quốc gia đến thực tập về các lĩnh vực Khoa học Trái đất và sinh học.

 

 

Ảnh 1. Những ngọn núi Ba Vì. Ảnh Tạ Hòa Phương.

 

Trong đề tài trọng điểm cấp Đại học quốc gia “Nghiên cứu đánh giá các điều kiện tự nhiên, cảnh quan địa chất vùng Hà Nội phục vụ quy hoạch phát triển du lịch”, chúng tôi dành trọng tâm nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Ba Vì phục vụ xây dựng một Công viên địa chất ở nơi đây.

 

Bước đầu nghiên cứu, chúng tôi đã thấy rõ Ba Vì và vùng phụ cận có tính đa dạng địa chất cao (có lịch sử phát triển địa chất kéo dài hàng tỉ năm, từ Mesopoterozoi cho đến nay, có đa dạng cao về thạch học, về cấu tạo đá, về mức độ biến chất đá, về thành phần và kiểu phun trào núi lửa, về hoạt động và sản phẩm phong hóa, về khoáng sản v.v..). Ngoài ra, các ngọn núi Ba Vì là một kiểu núi sót, tạo nên chủ yếu từ sản phẩm hoạt động núi lửa, có cấu trúc thật độc đáo với tầng cuội kết núi lửa nằm ở phần trên của các ngọn núi.

 

 

Ảnh 2. Một ranh giới địa chất lý thú chạy qua đáy tầng cuội kết núi lửa tại Ba Vì. Ảnh Tạ Hòa Phương

 

Rất nhiều ngọn núi, ngọn thác, khe suối, hồ nước trong khu vực Ba Vì mang vẻ đẹp tự nhiên, từ lâu đã thu hút du khách, xứng tầm các Danh thắng địa chất.

 

Vườn Quốc gia Ba Vì là nơi có đa dạng sinh học cao, được bảo vệ nghiêm ngặt, đồng thời rất phù hợp với loại hình du lịch sinh thái và đào tạo, nghiên cứu khoa học.

 

Ngoài phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, vùng Ba Vì còn nổi tiếng là chốn linh thiêng, gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh. Vùng đất này chứa dày đặc những di tích và di chỉ mang chất tâm linh và lịch sử, những lễ hội… có thể khai thác phục vụ du lịch sinh thái – văn hóa một cách hiệu quả.

 

Tuy nhiên, cũng chính nơi đây thiên nhiên đang bị tàn phá nặng nề. Ví dụ điển hình là việc khai thác đá vôi ở Hòn Chẹ - một kiệt tác của tạo hoá, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng từ lâu đời. Quả núi Chẹ toạ lạc giữa nền đất bằng phẳng, vươn tới tận bờ sông. Khối núi vút lên cao vòi vọi giữa chốn sơn thuỷ hữu tình từng được người Pháp trước đây từng ví như một Nhà thờ Đức Bà (Notre Dame) ở trời . Vậy mà ngày nay, kiệt tác thiên nhiên duy nhất bằng đá vôi thuộc quần thể Ba Vì, gắn chặt với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh ấy, đang dần dần biến mất.

 

Nhìn cảnh khai thác đá nham nhở, ai có dịp qua Chẹ hẳn đều thấy đau lòng. Thật buồn khi nghĩ rằng trong tương lai không xa con cháu chúng ta sẽ không được chiêm ngưỡng một thắng cảnh mang hồn thiêng sông núi. Người dân vùng Ba Vì còn đau lòng hơn vì những thế hệ sau sẽ không còn thấy ngọn núi là nguồn gốc của địa danh Chẹ quê hương mình.

 

Từ góc độ địa chất, có thể thấy Hòn Chẹ là núi đá vôi, loại đá được hình thành từ đáy biển kỷ Permi, từ trên 250 trăm triệu năm trước. Loại đá đó khác hẳn với các đá bazan và đá biến chất phổ biến trong khu vực, tạo nên một nét nhấn cực kỳ quan trọng về đa dạng địa chất của vùng. Đó cũng là tiêu chí để một vùng cảnh quan có thể xây dựng thành một công viên địa chất.

 


Ảnh 3. Hòn Chẹ nhìn từ phía Ba Vì – hiện trạng đang bị khai thác nham nhở
Ảnh Tạ Hoà Phương.

 

Tai sườn đông Ba Vì, nạn đào vàng cũng đang làm lòng núi bị khoét sâu nham nhở, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng v.v..

 

 

Kết luận

 

Qua nghiên cứu sơ bộ, Vùng núi Ba Vì và phụ cận, bao gồm cả huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây, hội đủ những điều kiện thiên nhiên, kinh tế - xã hội để xây dựng một Công viên địa chất cấp Quốc gia, tiến tới gia nhập Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu.

 

 

Việc xây dựng Công viên địa chất ở nơi đây ngoài ý nghĩa tạo một địa điểm tham quan du lịch lý tưởng đối với một thủ đô nhiều triệu dân, còn có ý nghĩa bảo vệ di sản địa chất này tránh khỏi sự phá hoại vô tình hay hữu ý của con người. Việc làm đó phù hợp với lòng dân từ khắp mọi miền đất nước, là hành động thiết thực để bảo vệ và khai thác tiềm năng của một vùng đất mang hồn thiêng sông núi theo hướng phát triển bền vững.

 

 

 

--------------------------

 

Tập thể tác giả:

 

PGS TS. Tạ Hòa Phương (Nhà cổ sinh học), PGS. TS. Đặng Văn Bào (Nhà địa mạo học), GS. TS Trần Trí Dõi (Nhà dân tộc học), PGS. TS Trần Đức Thanh (Nhà bản đồ, quy hoạch du lịch), PGS. TS. Vũ Văn Tích (Nhà địa chất học), CN. Bùi Văn Đông (Học viên cao học)

 

* Đại học Quốc gia Hà Nội

 

 

Các tin khác
 
SẢN PHẨM TIÊU BIỂU

***Tin mới nhập***
TÌM KIẾM THÔNG TIN
 
 
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Hội thông tin khoa học kỹ thuật Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: TS Ngô Kiều Oanh
Chương trình thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường
Số điện thoại (04)37562971 (04)38225398 - Email:
sanvatbavi@gmail.com
Trang Web hoạt động từ ngày 20/10/2008-Đơn vị tài trợ Công ty ATC Việt Nam